- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Xin ly hôn "Bích - Tháng""
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Thùy B.
- Căn cứ chính? Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK MIL TỈNH ĐẮK NÔNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:39/2023/HNGĐ-ST Ngày: 12/7/2023 V/v “Xin ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK MIL
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Nguyễn Thế Thắng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phan Sỹ Phác
2. Ông Vũ Hoàng Huy
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thùy Dung – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đăk Mil.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Mil tham gia phiên toà: ông Phạm Văn Cường – Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đăk Mil xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 87/2023/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 4 năm 2023 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 6 năm 2023; quyết định hoãn phiên tòa số 19/2023/QĐST-HN ngày 26 tháng 6 năm 2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thùy B – sinh năm 1994
Địa chỉ: Thôn T, xã S, huyện M, tỉnh Đắk Nông (có đơn xin xét xử vắng mặt).
Bị đơn: Anh Trần Quốc Th – sinh năm 1991
Địa chỉ: Thôn T, xã S, huyện M, tỉnh Đắk Nông (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện đề ngày 30/3/2023 và lời trình bày của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thùy B trong quá trình giải quyết vụ án: Chị và anh Trần Quốc Th kết hôn năm 2013, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện M, tỉnh Đăk Nông. Hôn nhân tự nguyện. Trong thời gian chung sống có 02 con chung là cháu Trần Nguyễn An H, sinh ngày 17/3/2018 và Trần Nguyễn Minh T, sinh ngày 02/02/2012. Về tài sản chung, nợ chung: không có. Về nguyên nhân mâu thuẫn dẫn đến việc chị làm đơn ly hôn với anh Trần Quốc Th là anh Th sống không có trách nhiệm với vợ con, có mối quan hệ với những người phụ nữa khác, bỏ bê gia đình. Chị đã nhiều lần khuyên bảo nhưng anh Th không sửa đổi. Cả hai đã sống ly thân 4 năm, không còn quan tâm đến cuộc sống của nhau. Do đó, chị làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh Trần Quốc Th. Về con chung: chị yêu cầu được nuôi dưỡng Trần Nguyễn Minh T và Trần Nguyễn An H, không yêu cầu anh Th cấp dưỡng. Về tài sản chung, nợ chung: không có nên không yêu cầu giải quyết.
Đối với bị đơn anh Trần Quốc Th: Tòa án đã thực hiện việc tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh Th nhưng anh Th không hợp tác làm việc.
Theo lời trình bày của cháu Trần Nguyễn Minh T trong quá trình giải quyết vụ án thì nếu bố mẹ ly hôn, nguyện vọng của cháu là ở với mẹ.
Tại biên bản xác minh ngày 24/4/2023 của Tòa án nhân dân huyện Đăk Mil, tỉnh Đăk Nông thì chị Nguyễn Thị Thùy B và anh Trần Quốc Th không đề nghị hòa giải ở cơ sở nên Ban tự quản thôn không nắm được.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil tham gia phiên toà phát biểu quan điểm về việc tuân thủ theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thùy B đều chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt, nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với nguyên đơn, bị đơn.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào quy định tại Điều 51, 56, 58 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thùy B được ly hôn với Trần Quốc Th
Về con chung: Giao cháu Trần Nguyễn An H, sinh ngày 17/3/2018 và Trần Nguyễn Minh Th, sinh ngày 02/02/2012 cho chị B trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: không có
Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thùy B phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
1 . Về thủ tục tố tụng:
Về quan hệ tranh chấp: chị Nguyễn Thị Thùy B yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn với anh Trần Quốc Th, đây là tranh chấp về ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn có nơi cư trú tại thôn T, xã S, huyện M, tỉnh Đăk Nông nên Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil thụ lý, giải quyết là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về sự vắng mặt của các đương sự: chị Nguyễn Thị Thùy B có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; anh Trần Quốc Th đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do, do đó, Hội đồng xét xử xét xử vụ án vắng mặt các đương sự là đúng quy định tại Điều 227, Điều 228 BLTTDS.
2. Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Thị Thùy B và anh Trần Quốc Th kết hôn với nhau năm 2013, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện M, tỉnh Đăk Nông, hôn nhân tự nguyện, nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống, cả hai phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do Anh Thắng đã vi phạm quyền và nghĩa vụ của vợ chồng theo quy định của Luật Hôn nhân gia đình năm 2014, sống không có trách nhiệm với gia đình, có mối quan hệ với người phụ nữ khác, dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn, cả hai đã sống ly thân 4 năm. Trong thời gian sống ly thân, các bên không tìm lại được tiếng nói chung, không có biện pháp để hàn gắn hôn nhân, xây dựng hạnh phúc gia đình, tình trạng vợ chồng không còn duy trì, hôn nhân không đạt được mục đích.
Tòa án nhân dân huyện Đăk Mil đã triệu tập hợp lệ đối với anh Trần Quốc Th nhưng anh Th không tham gia tố tụng, không đưa ra ý kiến để chứng minh cho yêu cầu của chị B là không có căn cứ. Do đó, Hội đồng xét xử xét xử vụ án theo các tài liệu, chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án. Xét thấy cần áp dụng Khoản 1 Điều 51, Khoản 1 Điều 56 Luật HNGĐ, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thùy B, xử cho chị B được ly hôn với anh Trần Quốc Th là phù hợp quy định pháp luật.
Về con chung: Trong quá trình giải quyết vụ án, chị Nguyễn Thị Thùy B yêu cầu được nuôi dưỡng cháu Trần Nguyễn An H, sinh ngày 17/3/2018 và Trần Nguyễn Minh T, sinh ngày 02/02/2012. Cháu Minh T có nguyện vọng được ở với mẹ nếu bố mẹ ly hôn. Xét thấy chị B là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc các cháu trong thời gian chị và anh Th ly thân, nên cần tiếp tục giao hai cháu cho chị B nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi các cháu đủ tuổi trưởng thành là phù hợp.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Các đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: không có nên không xem xét giải quyết.
Về án phí DSST: Chị Nguyễn Thị Thùy B phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí DSST theo quy định pháp luật.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Mil tại phiên tòa là có căn cứ nên HĐXX xét thấy cần được chấp nhận.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39; Khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Thùy B.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thùy B được ly hôn với anh Trần Quốc Th.
2. Về con chung: Giao cháu Trần Nguyễn An H, sinh ngày 17/3/2018 và Trần Nguyễn Minh T, sinh ngày 02/02/2012 cho chị Nguyễn Thị Thùy B trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu đủ 18 tuổi trưởng thành.
Việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn; Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau ly hôn; Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ trực tiếp nuôi con đối với người không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn được thực hiện theo quy định tại các Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật HNGĐ năm 2014.
3. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Các đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
Vì quyền và lợi ích mọi mặt của con, khi cần thiết có thể yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, yêu cầu cấp dưỡng theo quy định tại Điều 84, Điều 110, Điều 119 Luật HNGĐ năm 2014.
4. Về tài sản chung, nợ chung: không có.
5. Về án phí DSST: chị Nguyễn Thị Thùy B phải nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí Dân sự sơ thẩm về việc “Ly hôn” được khấu trừ vào 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0007207 ngày 05/4/2023 tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện M tỉnh Đăk Nông.
6. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tròn kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đắk Nông; - VKSND huyện Đắk Mil (02); - Chi Cục THADS huyện M; - UBND xã Đ, huyện M. - Các đương sự; - Lưu HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thế Thắng |