- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: chấp nhận yêu cầu của chị Hồ Nhựt H. Chị Hồ Nhựt H được ly hôn với anh Lê Văn T.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 39/2023/HNGĐ-ST Ngày: 12/6/2023 V/v tranh chấp ly hôn và nuôi con chung |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Loan
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Văn Phước;
2. Bà Cao Thị Bích Ngọc;
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Minh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: Ông Trần Cao Lâm - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 6 năm 2023 tại Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 26/2022/TLST- HNGĐ, ngày 17/02/2023 về “Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 73/QĐXXST- HNGĐ ngày 11/5/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 48/2023/QĐST – DS ngày 29/5/2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Hồ Nhựt H, sinh năm 1986 (vắng mặt);
Địa chỉ: Số 66, Khóm Mỹ P, phường Tân H, TP. V, tỉnh Vĩnh Long.
2. Bị đơn: Anh Lê Văn T, sinh năm 1993 (vắng mặt);
Địa chỉ: ấp Phú Hội X, xã Phú L, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và biên bản ghi lời khai nguyên đơn chị Hồ Nhựt H trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: chị và anh Lê Văn T quen biết và tìm hiểu nhau khoảng một năm. Năm 2021, chị và anh T chung sống với nhau không có tổ chức cưới nhưng có đăng ký kết hôn tại UBND xã Phú Long, huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp ngày 30/11/2021. Thời gian chung sống vợ chồng sống không H phúc do bất đồng quan điểm dẫn đến cải nhau thường xuyên. Tháng 5/2022 chị H sinh con, chị H muốn được về nhà mẹ ruột sinh sống để được mẹ ruột chăm sóc nhưng gia đình anh T không đồng ý; thời gian chị sinh sống ở gia đình anh T thì anh T cũng không quan tâm đến chị và đi nhậu thường xuyên, chị có khuyên nhủ nhiều lần nhưng anh T vẫn không thay đổi. Khi con chị H được một tháng tuổi chị đã ẳm con về nhà mẹ ruột sinh sống. Vì vậy vợ chồng cũng đã sống ly thân từ tháng 6/2022 cho đến nay. Do không còn tình cảm nên chị Hồ Nhựt H yêu cầu ly hôn với anh Lê Văn T.
- Về con chung: chị H và anh T chung sống có 01 con chung tên Hồ Nhựt Th sinh ngày 10/05/2022. Khi ly hôn, chị H yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Lê Văn T đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng nhưng anh T vẫn vắng mặt tại phiên hòa giải và tại phiên tòa, không có văn bản trình bày ý kiến.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành phát biểu ý kiến:
- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Thẩm phán đã thực hiện đúng qui định của Bộ luật tố tụng dân sự, xác định đúng quan hệ pháp luật và tư cách của người tham gia tố tụng, thu thập đầy đủ chứng cứ để làm căn cứ giải quyết vụ án.
- Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử và thư ký: Tại phiên toà Hội đồng xét xử và thư ký đã thực hiện đúng qui định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 71, riêng bị đơn chưa thực hiện theo qui định tại điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu của chị Hồ Nhựt H được ly hôn với anh Lê Văn T. Về con chung: áp dụng Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 giao cháu Hồ Nhựt Th sinh ngày 10/05/2022 cho chị H nuôi dưỡng sau khi ly hôn, chị H không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét. Về nợ chung, tài sản chung: chị H trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
Chị Hồ Nhựt H yêu cầu ly hôn với anh Lê Văn T là tranh chấp hôn nhân và gia đình về ly hôn được qui định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Anh T đang cư trú tại ấp Phú Hội Xuân, xã Phú Long, huyện Châu Thành nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Chị Hồ Nhựt H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh Lê Văn T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng tuy nhiên anh T vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, tiến hành xét xử vắng mặt chị H và anh T.
[2] Về quan hệ hôn nhân: chị Hồ Nhựt H và anh Lê Văn T chung sống với nhau trên tinh thần tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật nên được pháp luật công nhận hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Vợ chồng chung sống với nhau không H phúc, vợ chồng thường hay cải nhau do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, anh T không quan tâm đến chị H khi chị sinh con. Chị H cũng động viên nhiều lần nhưng anh T vẫn không thay đổi nên vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 6 năm 2022 cho đến nay, vì vậy chị H xin ly hôn với anh T.
Xét thấy mục đích của hôn nhân là nhằm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, H phúc; để đạt được mục đích đó vợ chồng chung sống với nhau phải có nghĩa vụ yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau. Trong thời gian chung sống, chị H và anh T thường hay bất đồng quan điểm trong cuộc sống dẫn đến cải nhau thường xuyên, thời gian chị sinh con anh T cũng không quan tâm đến chị. Thời gian chị H về nhà mẹ ruột sinh sống anh T cũng không liên lạc hay động viên chị H chung sống trở lại, điều đó chứng tỏ mâu thuẫn của chị H và anh T đã thật sự trầm trọng đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, việc chị H yêu cầu ly hôn với anh T là có cơ sở. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Hồ Nhựt H được ly hôn với anh Lê Văn T.
[3] Về con chung: chị H và anh T chung sống với nhau có Hồ Nhựt Th sinh ngày 10/05/2022. Chị H yêu cầu được nuôi con sau khi ly hôn, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy từ lúc chị H và anh T sống ly thân thì cháu Th do chị H chăm sóc nuôi dưỡng, cho đến nay cuộc sống của cháu đã ổn định, hiện nay cháu Th dưới 36 tháng tuổi nên cần được sự chăm sóc trực tiếp từ mẹ. Do đó nên giao cháu Th cho chị H nuôi dưỡng sau khi ly hôn. Do chị H không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Về tài sản chung, nợ chung: chị H xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết do đó Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về thủ tục tố tụng và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như đã phân tích trên là có căn cứ nên chấp nhận.
[6] Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/TBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc hội. Chị Hồ Nhựt H phải chịu toàn bộ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
- Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình;
- Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/TBTVQH14 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc hội ban hành ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu , nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: chấp nhận yêu cầu của chị Hồ Nhựt H. Chị Hồ Nhựt H được ly hôn với anh Lê Văn T.
2. Về con chung: giao cháu Hồ Nhựt Th sinh ngày 10/05/2022 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng sau khi ly hôn (cháu Th đang sống với chị H). Chị H không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con nên anh T không phải cấp dưỡng nuôi con.
Anh Lê Văn T có quyền đến thăm nom, chăm sóc con không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung, nợ chung: chị H xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Về án phí: Chị Hồ Nhựt H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị H đã nộp ngày 17/02/2023 theo biên lai số 0017256 tại Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành được chuyển thành án phí chị H phải nộp.
5. Nguyên đơn chị Hồ Nhựt H, bị đơn anh Lê Văn T được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp; - VKS nhân dân huyện Châu Thành; - Các đương sự; - Chi cục THA dân sự huyện Châu Thành; - UBND xã Phú Long, số 52 ngày 30/11/2021; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (Đã ký) Nguyễn Thị Hồng Loan |