vanban.org

Bản án 39/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa ông Trần Văn V và bà Ngô Thị Phương Th.

Về nuôi con chung: Ông V và bà Th có 03 người con chung là Trần Thị Kim Đ, sinh ngày 05-6-1991, Trần Thị Ngọc Tr sinh ngày 03-5-1993, Trần Thị Bảo Ng, sinh ngày 30-6-1995. Hiện 03 người con chung đã thành niên, không bị mất năng lực hành vi dân sự nên ông V không yêu cầu giải quyết. Về chia tài sản …

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ông Trần Văn V và bà Ngô Thị Phương Th"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa ông Trần Văn V và bà Ngô Thị Phương Th.
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU ĐỨC
TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 39/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 05-7-2023
“V/v Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU ĐỨC, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Nga.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Ngọc Phi.

2. Bà Võ Lệ Huyền.

- Thư ký phiên tòa: Bà Tạ Thị Mỹ Hạnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Hồng Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 7 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Đức xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 572/2022/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 11 năm 2022 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 6 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 24/2023/QĐST-HNGĐ ngày 19 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Châu Đức giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Trần Văn V, sinh năm 1966.

Địa chỉ: Tổ A, thôn B, xã C, huyện D, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.

Bị đơn: Bà Ngô Thị Phương Th, sinh năm 1973.

Địa chỉ: Tổ A, thôn B, xã C, huyện D, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.

(Ông V, bà Th vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết, nguyên đơn ông Trần Văn V trình bày: Sau khi tìm hiểu nhau được khoảng 03 năm thì ông V và bà Ngô Thị Phương Th mới đi đến hôn nhân. Hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn ngày 15-5-1991 tại Ủy ban nhân dân (UBND) xã A, huyện B, tỉnh An Giang. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến khoảng năm 2001 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân vợ chồng bất đồng quan điểm nên thường xuyên cãi vã nhau, giữa vợ chồng không còn sự quan tâm, chia sẽ trong cuộc sống. Vì không muốn gia đình đỗ vỡ nên ông V cũng cố gắng để vợ chồng tiếp tục chung sống nhưng qua thời gian tình cảm vợ chồng cũng không cải thiện được. Đến năm 2020 thì vợ chồng ly thân, trong thời gian ly thân ông V cũng đã tìm cách hàn gắn tình cảm nhưng không có kết quả. Nay, ông V yêu cầu Tòa án giải quyết:

Về hôn nhân: Ông V xin được ly hôn với bà Th.

Về nuôi con chung: Có 03 người con chung là Trần Thị Kim Đ, sinh ngày 05-6-1991, Trần Thị Ngọc Tr sinh ngày 03-5-1993, Trần Thị Bảo Ng, sinh ngày 30-6-1995.

Hiện 03 người con chung đã trưởng thành, không bị mất năng lực hành vi dân sự nên ông V không có ý kiến.

Về chia tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bà Ngô Thị Phương Th đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không có lý do vì vậy không lấy lời khai và tiến hành hòa giải được.

Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án thì Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn không thực hiện đúng phần quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn.

Về nuôi con chung: Hiện 03 người con chung đã thành niên nên ông V không yêu cầu giải quyết.

Về chia tài sản chung, nợ chung: Ông V không yêu cầu nên không giải quyết.

Về án phí: Ông V phải nộp án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

. Về tố tụng: Ông V và bà Th sống chung với nhau có đăng ký kết hôn nay ông V yêu cầu ly hôn nên đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình. Nơi cư trú của bà Th là xã C, huyện D, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu nên Tòa án nhân dân huyện Châu Đức thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35; Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ông V vắng mặt nhưng đã có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt nên Tòa án xét xử theo quy định tại khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bà Th đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai (không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan) nhưng vẫn vắng mặt nên Tòa án xét xử theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

. Về nội dung vụ án:

. Về hôn nhân: Hôn nhân giữa ông V và bà Th trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 15-5-1991 tại UBND xã A, huyện B, tỉnh An Giang. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến khoảng năm 2001 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân theo ông V là vợ chồng bất đồng quan điểm nên thường xuyên cãi vã nhau, giữa vợ chồng không còn sự quan tâm, chia sẽ trong cuộc sống. Đến năm 2020 thì vợ chồng ly thân, trong thời gian ly thân ông V cũng đã tìm cách hàn gắn tình cảm nhưng không có kết quả.

Sau khi thụ lý đơn yêu cầu ly hôn của ông V, Tòa án đã triệu tập bà Th để làm việc và hoà giải về quan hệ hôn nhân nhưng bà Th vẫn không đến. Ngoài ra, theo kết quả xác minh tại địa phương thì mâu thuẫn giữa ông V và bà Th là có thật. Như vậy, tình trạng hôn nhân giữa ông V và bà Th ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần áp dụng Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình xử cho ông V được ly hôn với bà Th.

. Về nuôi con chung: Ông V và bà Th có 03 người con chung là Trần Thị Kim Đi sinh ngày 05-6-1991, Trần Thị Ngọc Tr, sinh ngày 03-5-1993, Trần Thị Bảo Ng, sinh ngày 30-6-1995. Hiện 03 người con chung đã thành niên, không bị mất năng lực hành vi dân sự nên ông V không có ý kiến.

. Về chia tài sản chung, nợ chung: Ông V không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

. Về án phí: Ông V phải nộp 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm (DSST) đối với yêu cầu ly hôn.

. Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Đức tại phiên tòa về thủ tục tố tụng và quan điểm giải quyết vụ án là có cơ sở.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Căn cứ vào Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa ông Trần Văn V và bà Ngô Thị Phương Th.

2. Về nuôi con chung: Ông V và bà Th có 03 người con chung là Trần Thị Kim Đ, sinh ngày 05-6-1991, Trần Thị Ngọc Tr sinh ngày 03-5-1993, Trần Thị Bảo Ng, sinh ngày 30-6-1995. Hiện 03 người con chung đã thành niên, không bị mất năng lực hành vi dân sự nên ông V không yêu cầu giải quyết.

Về chia tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phí: Ông Trần Văn V phải nộp 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí DSST đối với yêu cầu ly hôn nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Đức theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0008409 ngày 15 tháng 11 năm 2022; ông Trần Văn V đã nộp xong án phí DSST.

Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ