vanban.org

Bản án 39/2023/DS-PT — Tranh chấp quyền sử dụng đất

TAND tỉnh Bến Tre Tuyên án 08/02/2023 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 08/02/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Đình chỉ kháng cáo của ông Phạm Minh N.

Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị Ngọc D, ông Phạm Minh T. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 45/2022/DS – ST ngày 04 tháng 7 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố B. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Phạm Văn B - Nguyễn Thị Ngọc Dung"
  • Tòa quyết gì? Đình chỉ kháng cáo của ông Phạm Minh N.
  • Căn cứ chính? Điều 100 Luật Đất đai; Điều 117 Bộ luật Dân sự; Điều 118 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 39/2023/DS - PT
Ngày: 08/02/2023
V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất,
yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Thanh Tòng

Các Thẩm phán:

Ông Huỳnh Ngọc Dũng

Ông Nguyễn Chí Đức

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Minh Nguyệt – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre: Bà Nguyễn Thị Thanh Thảo – Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 08 tháng 02 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 346/2022/TLPT-DS ngày 11 tháng 11 năm 2022 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 45/2022/DS – ST ngày 04 tháng 7 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố B bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 357/2022/QĐ – PT ngày 14 tháng 12 năm 2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Phạm Văn B, sinh năm 1955; (có mặt)

Địa chỉ: khu phố B, phường B, thành phố B, tỉnh Bến Tre.

- Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Phạm Thị Kim C, sinh năm 1986; (có mặt)

Địa chỉ: khu phố B, phường B, thành phố B, tỉnh Bến Tre.

- Bị đơn:

1. Bà Nguyễn Thị Ngọc D, sinh năm 1961; (có mặt)

2. Ông Phạm Minh N, sinh năm 1984; (vắng mặt)

3. Ông Phạm Minh T, sinh năm 1987; (có mặt)

Cùng địa chỉ: khu phố B, phường B, thành phố B, tỉnh Bến Tre.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc D: Luật sư Nguyễn Thị B thuộc Trung tâm Tư vấn Pháp luật, Hội Luật gia tỉnh Bến Tre. (có mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Phạm Văn Bé S, sinh năm 1958; (đã chết)

Địa chỉ: khu phố B, phường S, thành phố B, tỉnh Bến Tre.

- Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Sáu:

+ Bà Nguyễn Thị Ngọc T1.

+ Bà Phạm Thị Yến O.

+ Ông Phạm Huy T2.

Cùng địa chỉ: khu phố B, phường S, thành phố B, tỉnh Bến Tre.

2. Bà Phạm Thị Bé T3, sinh năm 1963;

Địa chỉ: Số nhà 254B khu phố 1, phường 8, thành phố B, tỉnh Bến Tre.

3. Bà Phạm Thị Bé C, sinh năm 1963;

Địa chỉ: ấp A, thị trấn M, huyện M1, tỉnh Bến Tre.

4. Bà Nguyễn Kim L, sinh năm 1957;

Địa chỉ: khu phố B, phường B, thành phố B, tỉnh Bến Tre.

5. Bà Phạm Thị Kim C, sinh năm 1986;

Địa chỉ: khu phố B, phường B, thành phố B, tỉnh Bến Tre.

Bà Nguyễn Thị Ngọc T1, bà Phạm Thị Yến O, ông Phạm Huy T2, bà Phạm Thị Bé T3, bà Phạm Thị Bé C có yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt.

- Người kháng cáo: Bị đơn Nguyễn Thị Ngọc D, Phạm Minh T, Phạm Minh N.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án sơ thẩm, nguyên đơn ông Phạm Văn B trình bày:

Phần đất đang tranh chấp có nguồn gốc của cụ Phạm Thị H là mẹ của ông. Cụ H mua phần đất này vào năm 1965. Sau khi mua đất, cả gia đình cụ H gồm cụ H, chồng cụ H là cụ N1 và các con của cụ H sống trên phần đất này. Năm 2001, phần đất này được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng cho hộ gia đình, do cụ H đại diện hộ đứng tên đối với thửa đất 66 tờ bản đồ số 14 diện tích 120,4 m2, tại Phường B, thành phố B, tỉnh Bến Tre.

Từ nhỏ ông B và các em của ông B gồm: Phạm Văn Bé S, Phạm Văn Bé B1, Phạm Thị Bé T3, Phạm Thị Bé C cùng sống chung trong căn nhà cất trên phần đất này. Sau đó, các em của ông là Phạm Văn Bé S, Phạm Thị Bé T3, Phạm Thị Bé C đều lập gia đình ra chuyển đi nơi khác sống, chỉ còn lại cụ H sống cùng gia đình của ông và gia đình ông Bé B1 cùng sống trong căn nhà lá do cụ H cất trên đất.

Vào khoảng năm 1998, bà D là vợ ông Bé B1 trúng số, nên vợ chồng ông B1 có xây cất lại nửa căn nhà của cụ H và sống cùng với cụ H (căn nhà bà D ở hiện nay). Ông B vẫn ở lại nửa căn nhà cũ. Vào năm 2001, cụ H có đồng ý cho ông B căn nhà lá mà ông đang ở và ông có sửa chữa lại thành cột bê tông, mái tole, nhưng vách thì sử dụng nhờ của nhà ông B1 và nhà bên cạnh (nhà ông B không có vách). Gia đình ông đã ở trên căn nhà này cho đến nay.

Mẹ của ông đã ký hợp đồng tặng cho thửa đất số 66 tờ bản đồ số 14 diện tích 120,4m2 (bao gồm cả căn nhà diện tích 55,1m2 mà ông đang ở) cho ông B1 mà ông không biết. Ông B1 đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 15/02/2005. Năm 2006, mẹ của ông chết. Đến năm 2014, ông B1 chết.

Khi căn nhà của ông xuống cấp trầm trọng, ông có ý định sửa chữa lại, phía bà D ngăn cản, lúc này ông mới biết việc ông B1 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất của cụ H, bao gồm cả phần đất cụ H đã cho ông.

Trước đây nguyên đơn có yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa cụ Phạm Thị H và ông Phạm Văn Bé B1 và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông Bé B1.

Nay ông rút lại một phần yêu cầu khởi kiện, rút lại yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông chỉ yêu cầu hủy một phần hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa cụ Phạm Thị H và ông Phạm Văn Bé B1 đối với phần đất diện tích theo kết quả đo đạc là 55,1m2 ngay vị trí căn nhà của ông, yêu cầu Tòa án công nhận cho ông phần đất này. Nếu yêu cầu này được chấp nhận, ông yêu cầu Tòa án kiến nghị cơ quan có thẩm quyền điều chỉnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất nêu trên từ ông Bé B1 sang qua ông.

Trong quá trình tố tụng, bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc D, đồng thời là người đại diện cho ông Phạm Minh T, ông Phạm Minh N trình bày:

Phần đất có nguồn gốc có nguồn gốc là của mẹ chồng bà là cụ Phạm Thị H tặng cho chồng bà là ông Phạm Văn Bé B1 vào năm 2004. Năm 2005, chồng của bà được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Năm 2006, cụ H chết. Năm 2014, ông Bé B1 chết. Ông B1 có những người thừa kế gồm: bà Nguyễn Thị Ngọc D (vợ ông B1), ông Phạm Minh N (con ông B1), ông Phạm Minh T (con ông B1) và bà Phạm Nguyễn Minh P (con ông B1, sinh năm 1990, đã chết năm 2018).

Ông B và ông B1 trước đây sống chung ở căn nhà cột cây, mái lá do cụ H cất. Năm 1998, bà trúng số, được sự đồng ý của cụ H, bà và chồng bà có sửa nửa căn nhà của cụ H lại thành căn nhà riêng như hiện tại bây giờ. Lúc đó cụ H chuyển qua ở cùng với vợ chồng bà. Nửa căn nhà còn lại cụ H để cho ông Phạm Văn B tiếp tục ở, lúc đó cụ H có nói cho ông B ở tạm, đến khi nào ông B mua đất thì trả lại cho chồng bà là ông Bé B1. Việc này cụ H chỉ nói miệng chứ không có chứng cứ gì. Ngoài phần đất này, cụ H không có phần đất nào khác.

Bà không đồng ý với yêu cầu của nguyên đơn, phần đất này chồng bà là ông B1 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hợp pháp. Bà và các con của bà có yêu cầu phản tố yêu cầu ông Phạm Văn B phải di dời tài sản, trả lại cho bà và các con bà phần đất có diện tích 55,1m2. Bà không đồng ý hỗ trợ chi phí di dời cho ông B.

Đối với kết quả đạc phần đất tranh chấp bà hoàn toàn thống nhất, những phần đất bị thiếu do quá trình sử dụng đất đã biến động, khi đo đạc đã ký hiệp thương ranh đất với các hộ liền kề nên bà thống nhất lấy kết quả như hiện trạng sử dụng đất đã ký hiệp thương ranh đất.

Sau khi hòa giải không thành, Tòa án nhân dân thành phố B đưa vụ án ra xét xử. Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 45/2022/DS – ST ngày 04 tháng 7 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố B đã tuyên:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phạm Văn B: Hủy một phần Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 12/10/2004 giữa cụ Phạm Thị H với ông Phạm Văn Bé B1 liên quan đến diện tích 55,1m2 thuộc một phần thửa 66 (14) tọa lạc tại phường B, thành phố B.

2. Công nhận cho ông B phần đất diện tích 55,1m2 (thửa 66b) thuộc một phần thửa 66 (14) tọa lạc tại phường B, thành phố B. (có họa đồ kèm theo). Kiến nghị cơ quan có thẩm quyền điều chỉnh Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông Phạm Văn Bé B1 đối với phần đất đất diện tích 55,1m2 (thửa 66b) nêu trên.

Ông Phạm Văn B tự liên hệ cơ quan có thẩm quyền để thực hiện thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất đất diện tích 55,1m2 (thửa 66b) nêu trên.

3. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc D, ông Phạm Minh T, ông Phạm Minh N về việc yêu cầu ông Phạm Văn B di dời nhà trả lại phần đất diện tích 55,1m2.

4. Ghi nhận phần đất còn lại không ai tranh chấp, giao cho các đồng thừa kế của ông Phạm Văn Bé B1 quản lý sử dụng.

Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo của các đương sự.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 15/7/2022 bà Nguyễn Thị Ngọc D, ông Phạm Minh T, ông Phạm Minh N kháng cáo, đơn kháng cáo có nội dung yêu cầu không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chấp nhận phản tố của bị đơn, buộc ông Phạm Văn B cùng 02 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Kim L và bà Phạm Thị Kim C di dời nhà, trả lại phần đất diện tích 55,1 m2 cho bị đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm, người kháng cáo vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Nguyên đơn không đồng ý kháng cáo của bị đơn, yêu cầu giữ nguyên bản án sơ thẩm. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn trình bày: Tòa sơ thẩm dựa vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho hộ để xác định thửa 66 là tài sản chung là chưa phù hợp. Xét điều kiện cấp đất cho hộ thì thửa 66 không đạt được yêu cầu vì thửa đất này có nguồn gốc do bà H nhận chuyển nhượng. Thời điểm này, các con của bà H còn nhỏ nên không có công sức gì để tạo lập nên tài sản này. Bản án sơ thẩm cho rằng ông Niệm có quyền sử dụng đất tuy nhiên hồ sơ không có chứng cứ chứng minh ông Niệm sống trên đất này. Tờ bán đất giồng bà H cũng đứng tên mua một mình. Sổ hộ khẩu gia đình cũng không có tên cụ N1. Giấy khai sinh của ông Bé B1, bà Bé T3, bà Bé C là không có tên cha. Do đó, không có chứng cứ chứng minh cụ N1 có quyền sử dụng đất này. Xét về nguồn gốc đất và quá trình sử dụng đất, chỉ có bà H có quyền sử dụng đất, đất cấp hộ chỉ là phôi giấy, chữ nghĩa về mặt giấy tờ nên bà H có toàn quyền đối với thửa đất này. Nếu theo nhận định của bản án sơ thẩm bà H không có quyền cho ông B1 vì đất của hộ nhưng bản án lại chấp nhận chứng cứ là bà H xác nhận nhà ở cho ông B là mâu thuẫn. Tuy nhiên, tại Đơn xin xác nhận nhà ở có chữ ký của bà H nhưng không có gì chứng minh bà H ký tên, nội dung ông B viết, không có chứng cứ trực tiếp thể hiện bà H cho đất ông B. Nên chứng cứ này mâu thuẫn với lập luận của bản án sơ thẩm. Đơn xin xác nhận nhà ở có trước thời điểm bà H được cấp quyền sử dụng đất năm 2001. Về hiện trạng ngôi nhà đang ở của ông B, bản án sơ thẩm cho rằng là nhà kiên cố nhưng thực tế nhà này là nhà tạm, không phải nhà kiên cố, nhà ông B không có vách nên có thể di dời được. Bà H đã tặng cho toàn bộ đất cho ông B1 là hợp lệ, bà H được cấp giấy và tặng cho ông B1 rồi ông B1 được cấp giấy là phù hợp. Nên bị đơn yêu cầu công nhận việc tặng cho đất này. Ông Bé Sáu cũng xác nhận là bà H tự nguyện cho ông B1. Bà Bé C cũng trình bày thống nhất là những lúc bà về thăm mẹ thì có nghe mẹ nói là đất chỉ cho ông B1 không cho ông B, có nói ra phường lăn tay cho ông B1. Từ đó, đề nghị chấp nhận kháng cáo của bị đơn, chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn, yêu cầu ông B di dời nhà trả đất cho bị đơn. Sự thật lúc đầu bà D không tranh chấp với ông B, vẫn cho ông B ở hết đời nhưng do hai gia đình ở gần nhau có xảy ra mâu thuẫn, bạo lực với gia đình bà D nên yêu cầu ông B di dời nhà nơi khác để đảm bảo an toàn cho gia đình bà D.

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: những người tiến hành tố tụng đã tuân theo đúng các quy định của pháp luật tố tụng, những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật tố tụng; về nội dung: đề nghị đình chỉ kháng cáo của ông N do được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt, không chấp nhận kháng cáo của bà D, ông T, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa,

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Người kháng cáo ông Phạm Minh N đã được Tòa án tống đạt hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa nên đình chỉ kháng cáo của ông Phạm Minh N theo quy định tại Điều 296 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Về nguồn gốc đất: Các bên đương sự thống nhất phần đất tranh chấp có nguồn gốc của cụ Phạm Thị H nhận chuyển nhượng năm 1965. Cụ H có chồng là cụ Võ Văn N. Sau khi nhận chuyển nhượng, cụ H cùng chồng và các con sống trên phần đất này. Sau này các con lập gia đình ra ở riêng, trên phần đất chỉ còn cụ H, vợ chồng ông Phạm Văn Bé B1, bà Nguyễn Thị Ngọc D; vợ chồng ông Phạm Văn B cùng sinh sống. Năm 1998, do bà Nguyễn Thị Ngọc D trúng số nên vợ chồng ông B1, bà D đã sữa chữa lại căn nhà của cụ H từ nhà lá thành nhà kiên cố như hiện trạng ngày nay. Phần đất còn lại ông B sử dụng làm nhà ở của ông.

Về đăng ký kê khai và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: Năm 1998, cụ Phạm Thị H có đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất, sở hữu nhà. Năm 2001, hộ cụ Phạm Thị H được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa 66, tờ bản đồ số 14, diện tích 120,4 m2, mục đích sử dụng: đất ở, tọa lạc tại phường B, thành phố B, tỉnh Bến Tre. Ngày 12/10/2004, cụ H lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất để tặng cho toàn bộ phần đất nêu trên cho con là ông Phạm Văn Bé B1. Ngày 15/02/2005, ông Phạm Văn Bé B1 được cấp quyền sử dụng đất đối với thửa 66, tờ bản đồ số 14, diện tích 120,4 m2 mục đích sử dụng: đất ở, tọa lạc tại phường B, thành phố B, tỉnh Bến Tre. Ngày 13/3/2006, cụ Phạm Thị H chết. Ngày 28/02/2014, ông Phạm Văn Bé B1 chết. Bà D cùng các con của ông B1, bà D quản lý sử dụng phần căn nhà kiên cố, diện tích theo đo đạc thực tế là 62,3 m2. Phần còn lại là nhà của ông B, diện tích theo đo đạc thực tế là 55,1 m2.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu hủy một phần hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa cụ Phạm Thị H và ông Phạm Văn Bé B1 đối với phần đất diện tích theo kết quả đo đạc là 55,1m2 ngay vị trí căn nhà của ông, yêu cầu Tòa án công nhận cho ông phần đất này:

Ngày 12/10/2004, cụ H lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất để tặng cho toàn bộ phần đất thuộc thửa 66, tờ bản đồ số 14 cho con là ông Phạm Văn Bé B1. Hợp đồng được Ủy ban nhân dân phường B công chứng chứng thực theo quy định pháp luật. Tuy nhiên, chủ thể tham gia ký kết là cụ H không ký tên, có dấu lăn tay không rõ của ai. Bên chuyển nhượng có người đại diện các con cụ H là ông Phạm Văn Bé S ký tên. Bên nhận chuyển nhượng là ông Phạm Văn Bé B1 ký tên. Thời điểm này, trên đất đã tồn tại 02 hộ gia đình đang sinh sống là hộ ông Phạm Văn Bé B1 và hộ ông Phạm Văn B. Cụ H lập hợp đồng tặng cho ông B1 toàn bộ phần đất trên đó có hộ ông Phạm Văn B đang sinh sống mà không có ý kiến của ông B là gây ảnh hưởng đến quyền lợi của hộ ông B. Các con của cụ H là bà Phạm Thị Bé T3, Phạm Thị Bé C cũng trình bày thống nhất thừa nhận sự việc trên phần đất tranh chấp tồn tại 02 căn nhà là nhà của vợ chồng ông B1, bà D xây dựng, cụ H ở chung căn nhà này và căn nhà của ông B xây dựng. Do đó, bản án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc yêu cầu hủy một phần hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập giữa cụ H và ông B1 tại phần đất 55,1 m2 có căn nhà của ông B là phù hợp.

Xét phản tố của bà D về việc yêu cầu hộ ông B di dời nhà trả đất:

Như đã phân tích trên, phần đất 55,1 m2 có căn nhà của ông B đã tồn tại từ lúc cụ H còn sống. Cụ H đồng ý cho ông B ở trên phần đất này, không có tranh chấp. Các con của cụ H cũng thừa nhận ông B đã sinh sống trên phần đất này từ trước đến nay. Ông B cũng không có nơi ở khác để di dời. Do đó, khi hủy một phần hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại vị trí căn nhà của ông B diện tích 55,1 m2 cần thiết xem xét cho ông B được quyền sử dụng phần đất này như bản án sơ thẩm tuyên là phù hợp. Toàn bộ kháng cáo của bà D, ông T, ông N là không có căn cứ nên không được chấp nhận, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Kháng cáo không được chấp nhận nhưng bà D là người cao tuổi nên được miễn án phí. Kháng cáo không được chấp nhận nên ông N, ông T phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định tại Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308, Điều 296 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Đình chỉ kháng cáo của ông Phạm Minh N.

Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị Ngọc D, ông Phạm Minh T.

Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 45/2022/DS – ST ngày 04 tháng 7 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố B.

Cụ thể tuyên:

Căn cứ các Điều 130, 131, 136, 117, 118, 641, 463 Bộ luật dân sự năm 2015; các Điều 100, Điều 203 Luật đất đai; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phạm Văn B: Hủy một phần Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 12/10/2004 giữa cụ Phạm Thị H với ông Phạm Văn Bé B1 tại phần đất diện tích 55,1m2, ký hiệu 66b, thuộc một phần thửa 66, tờ bản đồ số 14, tọa lạc tại phường B, thành phố B, tỉnh Bến Tre

Ông Phạm Văn B được tiếp tục quản lý sử dụng phần đất diện tích 55,1m2 (ký hiệu thửa 66b) thuộc một phần thửa 66, tờ bản đồ số 14, tọa lạc tại phường B, thành phố B, tỉnh Bến Tre. Bà Nguyễn Thị Ngọc D, ông Phạm Minh N, ông Phạm Minh T được tiếp tục quản lý sử dụng phần đất còn lại của thửa 66, tờ bản đồ số 14, tọa lạc tại phường B, thành phố B, tỉnh Bến Tre (có họa đồ kèm theo)

Các đương sự có nghĩa vụ liên hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho phù hợp bản án đã tuyên.

2. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc D, ông Phạm Minh T, ông Phạm Minh N về việc yêu cầu hộ ông Phạm Văn B di dời nhà trả lại phần đất diện tích 55,1m2.

3. Chi phí thu thập chứng cứ: 5.615.000 (Năm triệu sáu trăm mười lăm nghìn) đồng, nguyên đơn tự nguyện chịu và đã nộp xong.

4. Án phí dân sự sơ thẩm:

Bà Nguyễn Thị Ngọc D được miễn nộp án phí.

Ông Phạm Minh T, ông Phạm Minh N mỗi người phải chịu án phí sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà ông T và ông N mỗi người đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo các biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0002636 và 0002637 ngày 26/11/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố B. Ông Phạm Minh T, ông Phạm Minh N đã nộp đủ án phí.

5. Án phí dân sự phúc thẩm:

Bà Nguyễn Thị Ngọc D được miễn nộp án phí.

Ông Phạm Minh T, ông Phạm Minh N mỗi người phải chịu án phí sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà ông T và ông N mỗi người đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo các biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0005509 và 0005510 cùng ngày 15/7/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố B. Ông Phạm Minh T, ông Phạm Minh N đã nộp đủ án phí.

Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ