vanban.org

Bản án 39/2022/HSST — Hình sự

TAND TP. Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh Tuyên án 26/05/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và hình phạt:

Tuyên bố bị cáo Đỗ Thị B phạm tội “Đánh bạc”, xử phạt Đỗ Thị B 15 (mười lăm) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 (ba mươi) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 26 tháng 5 năm 2022). Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội “Đánh bạc”, xử phạt Nguyễn Văn Q 12 (mười hai) tháng tù, cho … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Thị Bình - CĐP - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật hình sự Tuyên bố; Điều 65 Bộ luật hình sự Tuyên bố
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ ĐT
TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 39/2022/HSST
Ngày: 26 - 5 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐT, TỈNH QUẢNG NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Trần Thị Như Quỳnh

Các Hội thẩm nhân dân: ông Trần Văn Nam và ông Nguyễn Văn Bẩy

Thư ký phiên tòa: ông Hoàng Mạnh Hùng - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã ĐT, tỉnh Quảng Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã ĐT tham gia phiên tòa: bà Phạm Thị Thu Hường - Kiểm sát viên.

Trong ngày 26 tháng 5 năm 2022, tại phòng xử án Tòa án nhân dân thị xã ĐT, tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 37/2022/TLST - HS ngày 21 tháng 4 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2022/QĐXXST- HS ngày 11 tháng 5 năm 2022 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Đỗ Thị B, tên gọi khác: không; sinh ngày 28/12/1981, tại thị xã ĐT, tỉnh Quảng Ninh; nơi thường trú: khu MS, phường XS, thị xã ĐT, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Đình V (đã chết) và bà Nguyễn Thị B; chồng: Vũ Trung T; con: có 03 con, con lớn nhất sinh năm 1999, con nhỏ nhất sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: chưa có; bị cáo bị bắt và tạm giữ trong trường hợp khẩn cấp từ ngày 25/01/2022, đến ngày 28/01/2022 được thay thế biện pháp tạm giữ bằng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Nguyễn Văn Q, tên gọi khác: không; sinh ngày 06/02/1971, tại thị xã ĐT, tỉnh Quảng Ninh; nơi thường trú: khu XV 3, phường XS, thị xã ĐT, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 03/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H (đã chết) và bà Nguyễn Thị X (đã chết); vợ: Nguyễn Thị Ph; con: có 01 con, sinh năm 1993; tiền án, tiền sự: chưa có; bị cáo bị bắt và tạm giữ trong trường hợp khẩn cấp từ ngày 25/01/2022, đến ngày 28/01/2022 được thay thế biện pháp tạm giữ bằng biện pháp ngăn chặn“Cấm đi khỏi nơi cư trú”, có mặt tại phiên tòa.

3. Họ và tên: Mai Thanh H, tên gọi khác: không; sinh ngày 19/5/1974, tại thị xã ĐT, tỉnh Quảng Ninh; nơi thường trú: khu XV2, phường XS, thị xã ĐT, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Mai Văn H và bà Nguyễn Thị Ngh; vợ: Chống Thị Thu H; con: có 03 con, con lớn nhất sinh năm 1998, con nhỏ nhất sinh năm 2010; tiền án, tiền sự: chưa có; nhân thân: ngày 12/4/2019, Phòng cảnh sát môi trường Công an tỉnh Quảng Ninh xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Vi phạm về khai thác khoáng sản, không có giấy phép khai thác khoáng sản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền”, đã chấp hành xong Quyết định xử phạt hành chính; bị cáo bị bắt và tạm giữ trong trường hợp khẩn cấp từ ngày 25/01/2022, đến ngày 28/01/2022 được thay thế biện pháp tạm giữ bằng biện pháp ngăn chặn“Cấm đi khỏi nơi cư trú”, có mặt tại phiên tòa.

- Người làm chứng:

+ Anh Vũ Trung T; sinh năm 1976; nơi cư trú: khu MS, phường XS, thị xã ĐT, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 12/2021, do không có việc làm ổn định và biết Đỗ Thị B có mua lại các bảng số lô, số đề nên Nguyễn Văn Q nảy sinh ý định và trao đổi, thống nhất với B là hằng ngày Q sẽ bán các số lô, số đề cho người chơi rồi bán lại bảng số lô, số đề cho B để Q hưởng hoa hồng thì B đồng ý. Theo đó, số lô, số đề bao gồm 02 (hai) chữ số; “ba càng” gồm 03 (ba) chữ số; số xiên hai, xiên ba tương ứng là bộ hai, ba số lô. Người chơi (đặt tiền cược trực tiếp mua số lô, số đề, lô xiên, số “ba càng” mình chọn, riêng số lô sẽ mua theo điểm, tương ứng 23.000 đồng/01 điểm (hai mươi ba nghìn đồng/một điểm lô). Đối chiếu với kết quả xổ số kiến thiết miền Bắc mở thưởng trong ngày để tính thắng thua, nếu số đề trùng với hai số cuối, số ba càng trùng với ba số cuối giải đặc biệt; số lô, các cặp số lô xiên trùng với hai số cuối của một trong tất cả các giải thì người chơi sẽ thắng bạc. Nếu số lô trùng từ hai giải trở lên thì số tiền thắng bạc được nhân tương ứng với số lần trúng. B sẽ trả tiền cho Q để Q trả cho người chơi số tiền tương ứng với 70 (bảy mươi) lần số tiền người chơi mua đề, 400 (bốn trăm) lần số tiền mua số ba càng, 10 lần số tiền mua số lô xiên hai, 40 lần số tiền mua số xiên ba và 80.000 đồng/01 điểm lô (tám mươi nghìn đồng/một điểm lô). Q được hưởng hoa hồng 15% tổng số tiền người chơi mua số đề, xiên, ba càng và 1.000 đồng/01 điểm lô (một nghìn đồng/một điểm lô).

Vào khoảng 18 giờ ngày 24/01/2022, Mai Thanh H dùng điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F9, gắn sim số 0335.542.389 nhắn tin để mua các số lô, số đề đến số 0362.853.288 của Q để đánh bạc gồm: số lô 98: 250 điểm; số đề 98, 08 mỗi số 500.000đ; 28, 24 mỗi số 300.000đ; số 82: 200.000đ; số 25: 700.000đ; số ba càng 998: 500.000đ. Tổng số tiền H mua các số lô, số đề là 8.750.000đ (tám triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng), nhưng H chưa chuyển tiền cho Q. Sau khi nhận được tin nhắn các số lô, số đề của H, Q chuyển tiếp nội dung đến số điện thoại 0988.315.046 của B. So sánh với kết quả xổ số cùng ngày trúng số lô 98: 250 điểm x 80.000đ = 20.000.000 đ (hai mươi triệu đồng). Tổng số tiền H, Q, B đánh bạc ngày 24/01/2022 là 28.750.000đ (hai mươi tám triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng). Sau đó, H đã đến gặp Q để lấy tiền thắng bạc, Q đã đưa cho H 11.250.000 đồng (mười một triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng), (sau khi trừ đi số tiền 8.750.000 đồng (tám triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng) mua các số lô, số đề trước đó).

Ngày 25/01/2022, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã ĐT, nhận được nguồn tin của quần chúng nhân dân báo tin về việc Đỗ Thị B, Nguyễn Văn Q có hành vi đánh bạc. Căn cứ kết quả xác minh (cùng ngày) Cơ quan điều tra đã bắt, giữ và khám xét khẩn cấp nơi ở đối với Đỗ Thị B, Nguyễn Văn Q và Mai Thanh H. Thu giữ của H 01 (một) chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 13 Pro Max, màu vàng, gắn sim số 0372.967.888 và 01 (một) chiếc điện thoại nhãn hiệu OPPO F9, màu xanh, gắn sim số 0335.542.389; Thu giữ của Q 01 (một) chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone X, màu trắng, gắn sim số 0972.476.662 và 01 (một) chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 6S, màu vàng, gắn sim số 0362.853.288; Thu giữ của B 01 (một) chiếc điện thoại nhãn hiệu OPPO X9009, màu vàng, gắn sim số 0336.662.938.

Tại biên bản kiểm tra điện thoại di động của Nguyễn Văn Q và Mai Thanh H vào ngày 25/01/2022 do Cơ quan điều tra lập xác định nội dung tin nhắn mua các số lô, đề và ba càng là của H gửi cho Q sau đó Q nhắn tin chuyển bảng số lô, số đề cho B.

Đối với chiếc điện thoại B khai dùng để nhận bảng của Q, nhãn hiệu OPPO, màu trắng, gắn sim số 0988.315.046. Tuy nhiên, trước khi bị bắt B đã vứt chiếc điện thoại trên ra khu vực bờ sông cách nhà ở khoảng 400 mét, Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm nhưng không thấy chiếc điện thoại trên.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Đỗ Thị B, Nguyễn Văn Q và Mai Thanh H khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên. Ngoài ra:

Bị cáo Đỗ Thị B khai: Bị cáo và Q là người cùng phường quen biết nhau đã lâu, thỉnh thoảng Q có ra quán nước của bị cáo ngồi chơi nói chuyện. Bị cáo nói với Q có nhận bảng ghi số lô đề, bị cáo và Q thống nhất với nhau là Q sẽ ghi số lô, đề của khách rồi nhắn tin chuyển cho bị cáo. Tiền sẽ thanh toán vào chiều ngày kế tiếp. Bị cáo trả công cho Q với mức 1.000 đồng/01 điểm lô và 15.000 đồng/100.000đ tiền đề ghi được. Khi Q nhắn tin chuyển bảng cho bị cáo thì sau khi có kết quả sổ xố kiến thiết miền Bắc, bị cáo ngồi so kết quả và ghi chép ra một tờ giấy nhỏ để tính toán, cộng lãi lỗ để thanh toán cho Q vào ngày hôm sau. Tính toán xong, bị cáo xé và vất luôn tờ giấy đó đi. Ngoài nhận bảng ghi số lô đề của Q thì bị cáo không nhận bảng ghi số lô đề của ai khác. Bị cáo trực tiếp ôm bảng, không chuyển cho ai. Ngày 24/01/2022, bị cáo có nhận của Q gửi số lô đề là 8.750.000 đồng (tám triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng)

Bị cáo Nguyễn Văn Q khai: Do quen biết bị cáo B, biết B nhận bảng lô đề nên bị cáo đã nhận ghi số lô đề từ bị cáo H rồi chuyển bảng cho B, nhận tiền hoa hồng. Ngoài ra, bị cáo không nhận ghi lô đề của ai khác. Trước ngày 24/01/2022 thì những lần trước đây bị cáo H có nhắn tin ghi số lô, số đề gửi cho bị cáo nhưng sau khi thanh toán xong bị cáo đều xóa tin nhắn đi nên không nhớ rõ thời gian, số tiền cụ thể đánh bạc và thắng thua thế nào. Ngày 24/01/2022, bị cáo chuyển bảng cho B với tổng số tiền H ghi lô đề là 8.750.000 đồng và sẽ được hưởng số tiền hoa hồng là 700.000 đồng. Tuy nhiên, bị cáo chưa nhận được tiền thì bị cơ quan công an bắt. Đối với số tiền 11.250.000 đồng bị cáo ứng ra thanh toán cho H, bị cáo đã nhận lại từ H nên không yêu cầu B pH trả cho bị cáo.

Bị cáo Mai Thanh H khai: Hằng ngày, nếu có nhu cầu đánh lô đề thì bị cáo sẽ nhắn tin cho Q và thanh toán tiền mặt cho Q vào chiều ngày kế tiếp hoặc sớm hơn. Sau khi thanh toán xong, bị cáo xóa luôn tin nhắn trên điện thoại đi, không ghi chép sổ sách gì. Bị cáo thỉnh thoảng ghi số lô, đề của Q nhưng không nhớ rõ thời gian và số tiền. Do ngày 24/01/2022 bị cáo còn lưu lại tin nhắn ở trên máy điện thoại nên bị cáo mới nhớ rõ số tiền mình đánh bạc. Ngoài ghi số lô đề chỗ Q thì bị cáo không ghi số lô đề của ai và cũng không trực tiếp ghi lô đề với bị cáo B.

Người làm chứng anh Vũ Trung T vắng mặt tại phiên tòa nhưng có lời khai tại cơ quan điều tra: Anh là chồng của bị cáo Đỗ Thị B. Quá trình chung sống và sinh hoạt tại gia đình anh chỉ biết B có nhận ghi số lô số đề, còn cụ thể B cầm bảng hay chuyển bảng cho ai anh không nắm rõ. Anh không thấy B ghi chép vào sổ sách gì, không hỏi B về việc ghi số lô đề thắng thua thế nào.

Tại Cáo trạng số: 46/CT- VKS - ĐT ngày 19 - 4 - 2022 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã ĐT truy tố các bị cáo Đỗ Thị B, Nguyễn Văn Q và Mai Thanh H về tội: “Đánh bạc”, quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã ĐT tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo theo bản Cáo trạng. Sau khi xem xét đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, đại diện Viện Kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:

* Về trách nhiệm hình sự: áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 17; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật hình sự (áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Mai Thanh H):

- Xử phạt bị cáo Đỗ Thị B từ 15 đến 18 tháng tù, cho hưởng án treo về tội “đánh bạc”, thời gian thử thách từ 30 đến 36 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 26 tháng 5 năm 2022).

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q từ 12 đến 15 tháng tù, cho hưởng án treo về tội “đánh bạc”, thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 26 tháng 5 năm 2022).

- Xử phạt bị cáo Mai Thanh H từ 12 đến 15 tháng tù, cho hưởng án treo về tội “đánh bạc”, thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 26 tháng 5 năm 2022).

Giao các bị cáo Đỗ Thị B, Nguyễn Văn Q và Mai Thanh H cho Ủy ban nhân dân phường XS, thị xã ĐT giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường XS, thị xã ĐT, tỉnh Quảng Ninh trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về Thi hành án hình sự.

- Về hình phạt bổ sung: áp dụng khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự:

Phạt tiền bị cáo Đỗ Thị B từ 10.000.000đ (mười triệu đồng) đến 12.000.000đ (mười hai triệu đồng) sung ngân sách nhà nước.

Phạt tiền bị cáo Nguyễn Văn Q từ 8.000.000đ (tám triệu đồng) đến 10.000.000đ (mười triệu đồng) sung ngân sách nhà nước.

Phạt tiền bị cáo Mai Thanh H từ 8.000.000đ (tám triệu đồng) đến 10.000.000đ (mười triệu đồng) sung ngân sách nhà nước.

- Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 46; điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy 02 (hai) sim điện thoại số: 0362.853.288 và 0335.542.389 của bị cáo Mai Thanh H và Nguyễn Văn Q

Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S, màu vàng của Nguyễn Văn Q; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F9 màu xanh của Mai Thanh H

Trả lại: bị cáo Đỗ Thị B 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F9 màu vàng, gắn sim số 0336.662.938; bị cáo Nguyễn Văn Q 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X, màu trắng, gắn sim số 0972.476.662; bị cáo Mai Thanh H 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Pro Max, màu vàng, gắn sim số 0372.967.888

Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng) và 8.750.000đ (tám triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng) do bị cáo Đỗ Thị B và bị cáo Mai Thanh H nộp tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã ĐT.

Các bị cáo khác không có ý kiến tranh luận gì đối với luận tội và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra Công an thị xã ĐT, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã ĐT, kiểm sát viên thu thập và hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các tài liệu, chứng cứ cũng như hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập và hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của các bị cáo:

Lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa là phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người làm chứng, với biên bản giữ người trong trường hợp khẩn cấp; biên bản xác định hiện trường do Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thị xã ĐT, lập hồi 15 giờ 00 phút ngày 28/01/2022 tại khu Mễ Sơn, phường XS, thị xã ĐT, tỉnh Quảng Ninh, với vật chứng thu giữ của các bị cáo và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: khoảng 18 giờ, ngày 24/01/2022 trên địa bàn phường XS, thị xã ĐT, tỉnh Quảng Ninh, Đỗ Thị B, Nguyễn Văn Q và Mai Thanh H có hành vi đánh bạc thắng thua bằng tiền dưới hình thức mua, bán các số lô, số đề, ba càng với tổng số tiền đánh bạc là 28.750.000đ (Hai mươi tám triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng).

Hành vi của các bị cáo Đỗ Thị B, Nguyễn Văn Q và Mai Thanh H đã phạm tội: “Đánh bạc”, quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thị xã ĐT truy tố và kết luận về hành vi phạm tội đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Về hình phạt:

Về tính chất, mức độ phạm tội của các bị cáo: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm trực tiếp trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an xã hội. Việc đánh bạc bằng hình thức ghi số lô, đề được thua bằng tiền bất hợp pháp làm gây thiệt hại về kinh tế của chính bản thân và gia đình các bị cáo, làm ảnh hưởng xấu đến đời sống sinh hoạt trong nhân dân. Vì vậy pH có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của từng bị cáo mới đảm bảo tính giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung tội phạm.

Xét vai trò của các bị cáo trong vụ án:

Đây là vụ án mang tính chất đồng phạm giản đơn. Bị cáo B là người giữ vai trò chính, trực tiếp nhận bảng số lô, số đề từ Q, tổng hợp được thua trong ngày, chi trả cho Q và trả hoa hồng cho bị cáo Q theo số tiền khi Q chuyển bảng lô, đề. Tiếp đến là bị cáo Q và H, là người thực hành tích cực. Mặc dù biết hành vi đánh lô, đánh đề là vi phạm pháp luật nhưng các bị cáo vẫn thực hiện. Do đó, các bị cáo pH chịu trách nhiệm về hành vi phạm tội của mình.

Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về nhân thân: bị cáo Mai Thanh H ngày 12/4/2019, Phòng cảnh sát môi trường Công an tỉnh Quảng Ninh xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Vi phạm về khai thác khoáng sản, không có giấy phép khai thác khoáng sản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền”, đã chấp hành xong Quyết định xử phạt hành chính.

- Về tình tiết tăng nặng: các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ: các bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đều khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo Mai Thanh H có bố là ông Mai Văn Hợi và mẹ là bà Nguyễn Thị Nghiêm được tặng thưởng Huân huy chương trong kháng chiến nên bị cáo được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Từ những đánh giá, phân tích nêu trên, căn cứ vào nhân thân, hành vi, tính chất, mức độ phạm tội của các bị cáo cũng như những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo có hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nên không cần thiết pH cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, mà chỉ cần giao các bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát, giáo dục, cải tạo để các bị cáo có điều kiện chăm lo cho gia đình và trở thành công dân có ích cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự, cần áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về tình tiết khác trong vụ án:

Theo lời khai của Q và H, trước đó H đã ghi các số lô, đề và ba càng của Q, sau đó Q chuyển cho B. Tuy nhiên, Q và H đều không nhớ cụ thể từng số lô, số đề...vv, cũng như ngày, tháng và số tiền đánh. Vì vậy, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ xử lý sau, nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:

- Đối với số tiền 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng) và 8.750.000đ (tám triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng) do bị cáo Đỗ Thị B và bị cáo Mai Thanh H nộp tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã ĐT, là tiền liên quan đến hành vi đánh bạc và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S màu vàng của Nguyễn Văn Q, 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F9 màu xanh của Mai Thanh H dùng để liên lạc ghi số lô, đề, cần tịch thu, sung vào ngân sách Nhà nước; 02 sim điện thoại 0362.853.288 và 0335.542.389 đi kèm theo máy cần tịch thu, tiêu hủy.

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F9 màu vàng, gắn sim số 0336.662.938 của bị cáo Đỗ Thị B; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X, màu trắng, gắn sim số 0972.476.662 của bị cáo Nguyễn Văn Q; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Pro Max, màu vàng, gắn sim số 0372.967.888 của bị cáo Mai Thanh H không liên quan đến hành vi phạm tội cần trả lại cho các bị cáo.

Về án phí: Các bị cáo pH chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt:

- Căn cứ khoản 1 Điều 321; Điều 17; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; các khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật hình sự

Tuyên bố bị cáo Đỗ Thị B phạm tội “Đánh bạc”, xử phạt Đỗ Thị B 15 (mười lăm) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 (ba mươi) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 26 tháng 5 năm 2022).

- Căn cứ khoản 1 Điều 321; Điều 17; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; các khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội “Đánh bạc”, xử phạt Nguyễn Văn Q 12 (mười hai) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (hai mươi bốn) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 26 tháng 5 năm 2022).

- Căn cứ khoản 1 Điều 321; Điều 17; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; các khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự

Tuyên bố bị cáo Mai Thanh H phạm tội “Đánh bạc”, xử phạt Mai Thanh H 12 (mười hai) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (hai mươi bốn) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 26 tháng 5 năm 2022).

Giao các bị cáo Đỗ Thị B, Nguyễn Văn Q và Mai Thanh H cho Ủy ban nhân dân phường XS, thị xã ĐT giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường XS, thị xã ĐT, tỉnh Quảng Ninh trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố tình vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo pH chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

- Về hình phạt bổ sung: căn cứ khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự:

Phạt tiền bị cáo Đỗ Thị B 12.000.000đ (mười hai triệu đồng) sung ngân sách nhà nước.

Phạt tiền bị cáo Nguyễn Văn Q 10.000.000đ (mười triệu đồng) sung ngân sách nhà nước.

Phạt tiền bị cáo Mai Thanh H 10.000.000đ (mười triệu đồng) sung ngân sách nhà nước.

2. Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 46; điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy các sim điện thoại: 0362.853.288 và 0335.542.389

- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S, màu vàng của bị cáo Nguyễn Văn Q; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F9 màu xanh của bị cáo Mai Thanh H.

- Trả lại: bị cáo Đỗ Thị B 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F9 màu vàng, gắn sim số 0336.662.938; bị cáo Nguyễn Văn Q 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X, màu trắng, gắn sim số 0972.476.662; bị cáo Mai Thanh H 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Pro Max, màu vàng, gắn sim số 0372.967.888

(Tình trạng vật chứng, tài sản như biên bản giao nhận vật chứng số 69 ngày 21 tháng 4 năm 2022 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã ĐT và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã ĐT).

- Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng) và 8.750.000đ (tám triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng) do bị cáo Đỗ Thị B và bị cáo Mai Thanh H nộp tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã ĐT theo biên lai thu tiền số 0005135 và 0005136 ngày 21 tháng 4 năm 2022

* Về xử lý biện pháp ngăn chặn: Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật

Tố tụng hình sự:

Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” số 83/2022/HSST - LCĐKNCT ngày 21/4/2022 và “Tạm hoãn xuất cảnh” số 97/2022/QĐ - THXC ngày 21/4/2022 của Tòa án nhân dân thị xã ĐT đối với bị cáo Đỗ Thị B kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” số 84/2022/HSST - LCĐKNCT ngày 21/4/2022 và “Tạm hoãn xuất cảnh” số 98/2022/QĐ - THXC ngày 21/4/2022 của Tòa án nhân dân thị xã ĐT đối với bị cáo Nguyễn Văn Q kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” số 85/2022/HSST - LCĐKNCT ngày 21/4/2022 và “Tạm hoãn xuất cảnh” số 99/2022/QĐ - THXC ngày 21/4/2022 của Tòa án nhân dân thị xã ĐT đối với bị cáo Mai Thanh H kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

* Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

Các bị cáo Đỗ Thị B, Nguyễn Văn Q và Mai Thanh H mỗi bị cáo pH nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

* Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, các bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Các bị cáo;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- Cơ quan điều tra Công an thị xã ĐT;

(đã ký)

- Cơ quan THAHS Công an thị xã ĐT;

- TAND tỉnh Quảng Ninh;

- Viện kiểm sát nhân dân Thị xã ĐT;

- Viện kiểm sát ND tỉnh Quảng Ninh;

- Chi cục THA DS Thị xã ĐT;

- Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ninh;

Trần Thị Như Quỳnh

- Lưu hồ sơ, VP./.

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Như Quỳnh Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Các bị cáo;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;

- Cơ quan điều tra Công an thị xã ĐT;

- Cơ quan THAHS Công an thị xã ĐT;

- TAND tỉnh Quảng Ninh;

- Viện kiểm sát nhân dân Thị xã ĐT;

- Viện kiểm sát ND tỉnh Quảng Ninh;

- Chi cục THA DS Thị xã ĐT;

Trần Thị Như Quỳnh

- Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ninh;

- Lưu hồ sơ, VP./.

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Như Quỳnh Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Các bị cáo;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- Cơ quan điều tra Công an thị xã ĐôngTriều;

- Cơ quan THAHS Công an thị xã ĐôngTriều;

- TAND tỉnh Quảng Ninh;

- Viện kiểm sát nhân dân Thị xã ĐT;

- Viện kiểm sát ND tỉnh Quảng Ninh;

- Công an Thị xã ĐT;

- Chi cục THA DS Thị xã ĐT;

Trần Thị Như Quỳnh

- Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ninh;

- TTG Công an tỉnh Quảng Ninh

- Lưu hồ sơ, VP./. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Bị cáo;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- TAND tỉnh Quảng Ninh;

- Viện kiểm sát nhân dân Thị xã ĐT;

- Viện kiểm sát ND tỉnh Quảng Ninh;

- Công an Thị xã ĐT;

- Chi cục THA DS Thị xã ĐT;

- Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ninh;

Trần Thị Như Quỳnh

- TTG Công an tỉnh Quảng Ninh

- Lưu hồ sơ, VP./.

Cỡ chữ