vanban.org

Bản án 39/2022/HSST — Hình sự

TAND Q. Hoàn Kiếm, TP. Hà Nội Tuyên án 31/03/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: LÊ PHI L phạm Tội Mua bán trái phép chất ma tuý.

Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội; Xử phạt: LÊ PHI L 28 (HAI MƯƠI TÁM) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày 17/11/2021. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: LÊ PHI L phạm Tội Mua bán trái phép chất ma tuý.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN HOÀN KIẾM TP HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 39/2022/HSST
Ngày 31 tháng 3 năm 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Hà - Thẩm phán. Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Minh Hương và Ông Quản Trường Giang Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Mai - Thư ký Tòa án. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm tham gia phiên tòa:

Bà Phan Thị Hạnh Ngân - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 3 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 32/2022/TLST-HS ngày 28 tháng 02 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2022/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 3 năm 2022, Quyết định hoãn phiên tòa số 15/2022/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 3 năm 2022, đối với:

* Bị cáo: Lê Phi L. Giới tính: Nam. Sinh năm: 1986. Tên gọi khác: Không. Nơi cư trú: số 135 P, phường C, quận K, H. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Không. Trình độ học vấn: 11/12. Họ tên cha: Lê Văn Q. Sinh năm: 1955. Họ tên mẹ: Nguyễn Thị N. Sinh năm: 1952. Bị cáo là con một.

Danh chỉ bản số 538 do Công an quận Hoàn Kiếm lập ngày 25/11/2021.

Nhân thân: 02 tiền án, 02 tiền sự. Tiền sự: 02 tiền sự

- Tháng 3/2006, Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 24 tháng (Ngoài thời hiệu)

- Tháng 11/2008, Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 24 tháng (Ngoài thời hiệu) Tiền án: 02 tiền án

- Ngày 10/12/2003, Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm xử phạt 08 tháng tù giam về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, 24 tháng tù giam về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Tổng hợp hình phạt chung của cả 02 tội là 32 tháng tù giam. Buộc Lê Phi L phải truy nộp số tiền 7.000.000 đồng sung công quỹ nhà nước (AS: 387/HSST). Bị cáo kháng cáo, ngày 16/3/2004, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt 08 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, 24 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Tổng hợp hình phạt cho cả 02 tội là 32 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách là 36 tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm (AS: 101/HSPT). Xác minh tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hoàn Kiếm: Đã nộp án phí HSST ngày 10/3/2004. Đã nộp đủ số tiền thu lợi bất chính 7.000.000đ ngày 10/3/2004 (Án tích đã xóa)

- Ngày 26/7/2016, Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (AS: 91/HSST). Ra trại ngày 26/4/2018. Xác minh tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đà Lạt: Đã nộp án phí HSST ngày 16/6/2017 (Án tích đã xóa) Tạm giữ: 17/11/2021

Tạm giam: 26/11/2021.

Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 1, Công an thành phố Hà Nội

(Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

*Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ngân hàng TMCP Q (viết tắt XYZ). Người đại diện theo pháp luật: Ông Hàn Ngọc V - Tổng Giám đốc. Trụ sở: tầng 1 (tầng trệt) và tầng 2 tòa nhà S, số 111A P, phường B, quận 1, thành phố M theo đăng ký thay đổi lần thứ 32, ngày 27 tháng 12 năm 2018 tại Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp công ty cổ phần.

(Đại diện ngân hàng vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 16/11/2021, tổ công tác Công an phường H làm nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát địa bàn phát hiện tại trước cửa số 20 H, phường H, quận K, H, Lê Phi L có biểu hiện nghi vấn nên tổ công tác tiến hành kiểm tra. Quá trình kiểm tra, L tự nguyện lấy từ trong túi áo khoác bên phải 01 túi nilong màu trắng kích thước 2x2 cm bên trong chứa chứa tinh thể màu trắng, L khai nhận là ma túy ‘đá’ đang mang đi giao cho đối tượng L1 - bạn xã hội (không rõ nhân thân, lai lịch). Tổ công tác đã lập biên bản tạm giữ, niêm phong tang vật và đưa L cùng tang vật về trụ sở Công an phường B để giải quyết.

Tang vật thu giữ của Lê Phi L: 01 điện thoại Nokia 3 màu xanh, lắp sim 1 số: 0348492031, sim 2 số: 0329556800, Imei 1: 35049082675890, Imei 2: 35049082675908. (BL: 36).

Tại Bản Kết luận giám định số 8286/KLGĐ-PC09 ngày 25/11/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an TP Hà Nội kết luận: Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi ni lông là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng: 0,350 gam. (BL: 35).

Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của L tại địa chỉ số 135 P, phường C, quận, K, H, không phát hiện thu giữ gì. (BL: 42).

Tại cơ quan điều tra, Lê Phi L khai nhận: Khoảng 14 giờ 52 phút ngày 16/11/2021, L nhận tin nhắn qua mạng xã hội Facebook từ bạn xã hội là Nguyễn Hương L1 (không rõ nhân thân, lai lịch, tên facebook ‘An Nhiên’) nhờ mua giúp 300.000 đồng tiền ma túy ‘đá’. L1 chuyển cho L 500.000 đồng qua ví điện tử Momo (trong đó 300.000 đồng L1 nhờ mua ma túy, 50.000 đồng cho L đổ xăng để đi mua ma túy, 150.000 đồng là tiền L1 trả nợ tiền vay từ trước đó), L1 đã chuyển tiền từ ứng dụng Momo đến tài khoản của L ở ngân hàng TMCP Q (XYZ). Sau đó, L đã cầm thẻ ATM ra cây ATM rút 300.000 đồng từ tài khoản của L ở XYZ. Do không mượn được xe máy nên L đi bộ ra khu vực gầm cầu L, phường Đ, quận K, H gặp một người đàn ông (không rõ lai lịch) và hỏi mua 300.000 đồng tiền ma túy ‘đá’. L cất ma túy vào túi áo khoác bên phải rồi đi bộ về. Khi đến trước cửa số 20 H, phường H, quận K, H thì bị tổ công tác kiểm tra, bắt giữ như nêu trên. Hiện tại số tiền 200.000 đồng còn lại trong tài khoản XYZ của L có số 003424723.

Về đối tượng bán ma túy cho Lê Phi L, do L khai không biết tên tuổi, địa chỉ, việc mua bán thực hiện trực tiếp, cơ quan điều tra đã dẫn giải L đến nơi mua ma túy nhưng không xác định được người bán ma túy. Do vậy, cơ quan điều tra không có điều kiện xác minh làm rõ để xử lý.

Về đối tượng mua ma túy sử dụng tài khoản Facebook “An Nhiên”, L khai không biết nhân thân, lai lịch, địa chỉ, chỉ biết tên là Nguyễn Hương L1, giao dịch chuyển tiền trực tuyến qua tài khoản Momo. Tiến hành xác minh tài khoản Momo, không xác định được thông tin tài khoản và số điện thoại liên quan nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh làm rõ, xử lý.

Tại bản cáo trạng số 34/CT-VKS ngày 18 tháng 02 năm 2022 đã truy tố Lê Phi L tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ Luật Hình sự.

Tại phiên tòa: Bị cáo khai nhận như khai tại Cơ quan điều tra và công nhận nội dung bản cáo trạng đã truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ Luật Hình sự là đúng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm giữ quyền công tố sau khi phân tích tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo bản cáo trạng đã ban hành, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Phi L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; áp dụng khoản 1 Điều 251, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 47 của Bộ Luật Hình sự, xử phạt bị cáo với mức án từ 30 tháng đến 36 tháng tù. Đề nghị tịch thu sung công quỹ tài sản 01 điện thoại Nokia 3 màu xanh, Imei 1: 35049082675890, Imei 2: 35049082675908 đã thu giữ của bị cáo; tịch thu tiêu hủy số ma túy, 02 sim điện thoại 0348492031, 0329556800 đã thu giữ của bị cáo. Buộc bị cáo truy nộp số tiền 50.000 đồng thu lời bất chính. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Trước khi Hội đồng xét xử vào phòng Nghị án, bị cáo được nói lời sau cùng, bị cáo trình bày bản thân nhận thức được hành vi mua bán trái phép chất ma túy của mình là phạm tội, xin hứa không tái phạm, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

. Về tố tụng: Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Hoàn Kiếm, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Lời khai của bị cáo phù hợp lời khai người làm chứng, biên bản thu giữ vật chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 16/11/2021, Lê Phi L đã có hành vi tàng trữ 0,350 gam ma túy Methamphetamine nhằm mục đích bán trái phép tại trước cửa số 20 H, phường H, quận K, H, thì bị phát hiện bắt quả tang cùng tang vật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự an toàn xã hội. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và biết rõ hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy” bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vì hám lợi nên vẫn cố ý thực hiện.

Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.

Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo: Không có. Tuy nhiên, HĐXX cũng xét thấy bị cáo có nhân thân xấu, đã 02 lần phạm tội nhưng việc cải tạo, giáo dục của pháp luật chưa có tác dụng đối với bị cáo nên bị cáo đã tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội lần này nên cần có quyền định hình phạt nghiêm khắc hơn để bị cáo có nhận thức và tự bản thân thay đổi.

Về quyết định hình phạt: Hội đồng xét xử nhận thấy cần thiết áp dụng hình phạt chính là hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo nhằm bảo vệ các quan hệ xã hội bị các hành vi vi phạm pháp luật xâm hại, đảm bảo tính công minh của pháp luật; cách ly người phạm tội với môi trường xã hội, phòng ngừa, ngăn chặn không để họ tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội; răn đe những người có ý định phạm tội góp phần vào cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm, đảm bảo an ninh, trật tự của đất nước. Hơn nữa, bị cáo được giáo dục cải tạo, giúp bị cáo nhận thức rõ tội lỗi, hành vi vi phạm pháp luật, khắc phục, sửa chữa những thói quen, hành vi của bản thân không phù hợp với chuẩn mực đạo đức xã hội; ăn năn, hối cải, tích cực lao động, học tập, cải tạo, xây dựng nhận thức, tình cảm đúng đắn, định hướng được các giá trị, chuẩn mực về đạo đức, lối sống của công dân để khi trở về địa phương, họ sẽ trở thành những công dân có ích cho xã hội.

Thời gian bị cáo bị tạm giữ, tạm giam được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù theo quy định của pháp luật.

Về hình phạt phụ bổ sung: Bị cáo nghề nghiệp không ổn định nên không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về Biện pháp tư pháp: Tịch thu xung công quỹ 01 điện thoại nhãn hiệu Nokia 3 màu xanh đã qua sử dụng; tịch thu tiêu hủy số ma túy, sim điện thoại đã thu giữ của bị cáo. Về số tiền 200.000 đồng cùng trong số tiền 500.000 đồng bị cáo nhận được từ người mua ma túy chuyển khoản, bị cáo không có tài liệu, chứng cứ nào chứng minh số tiền 200.000 đồng không phải là số tiền người mua trả công cho bị cáo ngoài lời khai nên bị xung công quỹ Nhà nước. Do số tiền 200.000 đồng hiện do XYZ quản lý tài khoản của bị cáo nên XYZ có nghĩa vụ giao nộp xung công quỹ Nhà nước theo quy định của pháp luật từ tài khoản của bị cáo Lê Phi L.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Án phí hình sự: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1.Tuyên bố: LÊ PHI L phạm Tội Mua bán trái phép chất ma tuý.

2. Áp dụng:

- Điều 251 khoản 1; Điều 38; Điều 47; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ Luật Hình sự năm 2015;

- Điều 106, 135, 136, 331, 333 của Bộ Luật tố tụng hình sự 2015;

- Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội;

3. Xử phạt: LÊ PHI L 28 (HAI MƯƠI TÁM) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày 17/11/2021.

4. Biện pháp tư pháp:

- Tịch thu tiêu hủy:

+ 01 phong bì niêm phong bên trong có: 01 túi ni lông kích thước 2x2cm chứa tinh thể màu trắng là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng: 0,350 gam (PC 09 Công an TPHN đã trích lấy mẫu để giám định 0,107 gam, còn lại 0,243 gam). Tại các mép niêm phong có chữ ký của bị cáo Lê Phi L, người chứng kiến T, giám định viên Nguyễn Thị T và hình dấu của Công an phường H.

+ 02 sim điện thoại số: 0348492031, 0329556800.

- Tịch thu xung công quỹ:

+ 01 điện thoại Nokia 3 màu xanh, Imei 1: 35049082675890, Imei 2: 35049082675908.

Số vật chứng trên hiện giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hoàn Kiếm theo Biên bản giao nhận tang vật, vật chứng ngày 21/3/2022.

+ Số tiền 200.000 đồng do phạm tội mà có.

Số tiền 200.000 đồng trên hiện thuộc số dư tài khoản của bị cáo tại Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam quản lý có số tài khoản 003424723 nên Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam có nghĩa vụ thực hiện việc nộp xung công quỹ Nhà nước trích từ tài khoản 003424723 khi có yêu cầu của Cơ quan thi hành án có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.

5. Án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

6. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ