vanban.org

Bản án 39/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 12/04/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hữu L phạm tội “Công nhiên chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt: Nguyễn Hữu L 07 (bảy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 14 (mười bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao các bị cáo về Ủy ban nhân dân xã H, huyện Y, tỉnh N nơi bị cáo thường trú để giám sát và giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách của án treo. Trong trường hợ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "NGUYỄN HỮU LONG - phạm tội công nhiên chiếm đoạt tài sản (điều 172 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hữu L phạm tội “Công nhiên chiếm đoạt tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 172 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ NGHI SƠN
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 39/2022/HS-ST
Ngày: 12-04-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Lê Thị Hạnh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Mai Văn Thông

Nghề nghiệp: Giáo viên

2. Ông Mai Đức Danh

Nghề nghiệp: Cán bộ hưu trí

- Thư ký phiên toà: Ông Hoàng Văn Trung - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa

- Đại diện VKSND thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Khắc Duyến – Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 04 năm 2022, tại Toà án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 30/2022/TLST-HS ngày 07 tháng 03 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2022/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 04 năm 2022 đối với bị cáo:

Nguyễn Hữu L - Sinh ngày 30/5/2004 tại xã H, huyện Y, tỉnh N; Nơi cư trú: Xóm L, xã H, huyện Y, tỉnh N; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Thiên chúa giáo; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Con ông: Nguyễn Q - Sinh năm 1954 và con bà: Đàm Thị T - Sinh năm 1956;

Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20/12/2021 đến ngày 23/12/2021 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 23/12/2021 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

* Người bào chữa: Ông Lê Khắc Hải – Trợ giúp viên pháp lý

Địa chỉ: Chi nhánh trợ giúp pháp lý số 7, thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Thanh Hóa

* Người giám hộ: Anh Nguyễn Hữu Q - Sinh năm : 1981 (có mặt)

Nơi cư trú: Xóm L, xã H, huyện Y, tỉnh N;

(Theo văn bản ủy quyền ngày 20 tháng 12 năm 2021)

* Bị hại:

1. Anh Vũ Đại D - Sinh năm 1980 (vắng mặt)

Địa chỉ: Tổ dân phố N, thị trấn V, huyện L, tỉnh H

* Người làm chứng:

1. Anh Nguyễn Hữu Q - Sinh năm 1981 (vắng mặt)

Địa chỉ: Xóm Lạc T, xã H, huyện Y, tỉnh N

2. Ông Đoàn Việt T – Sinh năm: 1956 (vắng mặt)

Địa chỉ: Số nhà 682, phường T, thành phố T, tỉnh N;

3. Anh Lê Duy D – Sinh năm: 1981 (vắng mặt)

Địa chỉ: Tổ dân phố D, phường T, thị xã N, tỉnh T;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có ý định chiếm đoạt xe mô tô của người khác làm phương tiện đi lại nên khoảng 09 giờ 00 phút, ngày 16/12/2021, Nguyễn Hữu L , sinh năm 2004 trú tại xóm L, xã H, huyện Y, tỉnh N đi đến khu vực ngã ba Pháp Vân, thành phố Hà Nội. L thấy anh Vũ Đại D, sinh năm 1980 trú tại tổ dân phố N, thị trấn Vụ, huyện L, tỉnh H (hành nghề xe ôm) điều khiển xe mô tô BKS 90B2-485.19, nhãn hiệu Honda, loại xe Airblade, màu xám đen, đang chờ đón khách, Lđi lại nói chuyện rồi thuê anh D chở về Tĩnh Gia, Thanh Hoá (nay là thị xã Nghi Sơn, Thanh Hoá) để tìm cơ hội chiếm đoạt xe mô tô. Anh D đồng ý điều khiển xe mô tô chở L đi, khi đến thành phố T, tỉnh N, L bảo Anh D dừng lại trước cửa hàng mua bán vật liệu xây dựng của gia đình ông Đoàn Việt T, ở số nhà 682, phường T, thành phố Tam Đ để L vào gặp ông T, mục đích chờ cho Anh D sơ hở để chiếm đoạt xe mô tô, nhưng do Anh D đứng gần xe máy L không thực hiện được ý định trên nên L quay ra bảo Anh D tiếp tục chở về thị xã N, Thanh H. Đến khoảng 17 giờ 00 phút cùng ngày, khi Anh D chở L đến tổ dân phố Dự Quần 1, phường Xuân Lâm, thị xã Nghi Sơn, Thanh Hoá, thì Anh D dừng xe lại trước cửa hàng tạp hóa của gia đình anh Lê Duy D vào mua nước uống, còn L đứng ngoài đợi. Lúc này L thấy chìa khóa xe Anh D vẫn cắm trong ổ khóa, lợi dụng thời điểm Anh D vào quán mua nước, không quản lý được tài sản, L đã nổ máy, điều khiển xe bỏ chạy. Thấy vậy, Anh D chạy bộ đuổi theo nhưng không kịp. Về phần L, sau đó đã điều khiển xe mô tô chiếm đoạt được đi về nhà ở xóm Lạc T, xã H, huyện Y, tỉnh N.

Đến ngày 20/12/2021, biết hành vi của mình đã bị phát hiện, Nguyễn Hữu L đến cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Nghi Sơn đầu thú, giao nộp tài sản chiếm đoạt được và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Hội đồng định giá tài sản UBND thị xã Nghi Sơn kết luận: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe Airblade, màu xám đen, biển kiểm soát 90B2-485.19 của anh Vũ Đại Dương có giá trị tại thời điểm bị chiếm đoạt là 18.490.000 đồng.

Đối với hành vi điều khiển xe mô tô khi chưa cho giấy phép lại xe theo quy định của Nguyễn Hữu L , cơ quan Cảnh sát điều tra đã chuyển hồ sơ đến Công an thị xã Nghi Sơn để xử lý theo thẩm quyền.

Về vật chứng vụ án: Cơ quan điều tra đã thu giữ vật chứng vụ án gồm: 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe Airblade, màu xám đen, biển kiểm soát 90B2-485.19; 01 áo gió màu đen, có mũ, ngực trái áo có in dòng chữ COMAJULY ACCUWEAT, ngực phải của áo có in dòng chữ THE AAPE UNIVERSE; 01 áo khoác măng tô màu đen; 01 đôi giày thể thao màu đen.

Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe Airblade, màu xám đen, biển kiểm soát 90B2-485.19 là vật chứng vụ án. Xét thấy không ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án, sau khi phục vụ công tác định giá, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Nghi Sơn đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Vũ Đại D.

Đối với 01 áo gió màu đen, có mũ, ngực trái áo có in dòng chữ COMAJULY ACCUWEAT, ngực phải của áo có in dòng chữ THE AAPE UNIVERSE; 01 áo khoác măng tô màu đen; 01 đôi giày thể thao màu đen, xét thấy không phải là vật chứng vụ án, cơ quan Điều tra và Viện kiểm sát đã trả lại cho bị can Nguyễn Hữu L .

Về dân sự: Anh Vũ Đại D đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không có yêu cầu gì thêm về dân sự .

Bản cáo trạng số 44/CT-VKSNS-HS ngày 03/03/2022 của VKSND thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố Nguyễn Hữu L về tội “Công nhiên chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 172 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

* Tại phiên tòa Viện kiểm sát đề nghị:

- Áp dụng: Khoản 1 Điều 172; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 90, Điều 91, Điều 98 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

- Mức hình phạt mà VKS đề nghị xử phạt đối với bị cáo là từ 07 tháng đến 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 14 tháng đến 20 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

- Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:

+ Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Nghi Sơn đã trả lại tài sản cho anh Vũ Đại Dương 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe Airblade, màu xám đen, biển kiểm soát 90B2-485.19. Anh D đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt nói trên và không có yêu cầu gì thêm nên đề nghị HĐXX không xem xét;

+ Đối với 01 áo gió màu đen, có mũ, ngực trái áo có in dòng chữ COMAJULY ACCUWEAT, ngực phải của áo có in dòng chữ THE AAPE UNIVERSE; 01 áo khoác măng tô màu đen; 01 đôi giày thể thao màu đen, xét thấy không phải là vật chứng vụ án nên cơ quan Điều tra và Viện kiểm sát đã trả lại cho Nguyễn Hữu L . Bị cáo đã nhận lại các tài sản nói trên và không có yêu cầu gì thêm nên đề nghị HĐXX không xem xét;

- Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo là người chưa thành niên phạm tội nên đề nghị HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

* Quan điểm của Ông Lê Khắc Hải, trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo như sau:

Thống nhất với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Đề nghị HĐXX xem xét khi phạm tội bị cáo chưa đủ 18 tuổi, sau khi phạm tội nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên bị cáo đã đến cơ quan CSĐT Công An thị xã Nghi Sơn để đầu thú; Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo.

Đề nghị HĐXX áp dụng mức hình phạt thấp nhất mà Viện kiểm sát đề nghị và cho bị cáo cải tạo tại địa phương cũng đủ cải tạo và giáo dục bị cáo cũng như thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: Đã được giải quyết xong nên đề nghị HĐXX không xem xét.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Cơ quan Công an thị xã Nghi Sơn, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên toà sơ thẩm công khai hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cũng như các tài liệu chứng chứng đã được thẩm tra tại phiên tòa hôm nay có đủ căn cứ để khảng định VKSND thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa truy tố bị cáo về tội “Công nhiên chiếm đoạt tài sản” là có căn cứ.

Tại phiên toà, đại diện VKSND thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên quyết định truy tố. Do đó, HĐXX có đủ cơ sở kết luận Nguyễn Hữu L phạm tội “Công nhiên chiếm đoạt tài sản”, tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xét tính chất vụ án: Hành vi công nhiên chiếm đoạt tài sản của Nguyễn Hữu L là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản của anh Vũ Đại D một cách trái pháp luật, làm ảnh hưởng xấu đến an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội. Bị cáo chiếm đoạt tài sản của Anh D nhằm mục đích lấy phương tiện đi lại. Vì vậy cần thiết phải xử lý nghiêm để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa tội phạm chung.

Hành vi phạm tội của bị cáo không chỉ xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác mà còn làm ảnh hưởng đến trật tự trị an xã hội, gây hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân. Do đó việc đưa bị cáo ra xét xử buộc bị cáo phải chịu một hình phạt là cần thiết. Vì vậy cần phải có đường lối xử lý nghiêm tương xứng với hành vi và hậu quả mà bị cáo đã gây ra để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo mới 17 tuổi 6 tháng 16 ngày nên được áp dụng chính sách quy định tại Chương XII Bộ luật Hình sự.

Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, HĐXX thấy rằng:

Tiền án, tiền sự không.

Sau khi phạm tội nhận thức được hành vi của mình là vi phạm phạm pháp luật, không thể trốn tránh được nên bị cáo đã đến cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Nghi Sơn để đầu thú khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình; Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Do đó bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1; khoản 2 Điều 51 BLHS năm 2015. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Do có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng, với nhân thân các bị cáo như trên, hơn nữa bị cáo có lai lịch rõ ràng, có nơi trú ổn định; là người chưa thành niên nên nhận thức pháp luật còn hạn chế, ham chơi, nhất thời phạm tội. Căn cứ vào pháp luật hình sự xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo cải tạo tại địa phương cũng phù hợp với Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, cũng đủ răn đe, giáo dục bị cáo và để thể hiện tính khoan hồng của pháp luật, mở đường cho bị cáo hướng tới tương lai để tu dưỡng, rèn luyện mình trở thành người công dân tốt.

Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra công an Thị xã Nghi Sơn đã trả lại cho:

+ Anh Vũ Đại D 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe Airblade, màu xám đen, biển kiểm soát 90B2-485.19. Anh D đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt nói trên và không có yêu cầu gì thêm nên HĐXX không xem xét;

+ Nguyễn Hữu L 01 áo gió màu đen, có mũ, ngực trái áo có in dòng chữ COMAJULY ACCUWEAT, ngực phải của áo có in dòng chữ THE AAPE UNIVERSE; 01 áo khoác măng tô màu đen; 01 đôi giày thể thao màu đen vì xét thấy không phải là vật chứng vụ án. Bị cáo đã nhận lại các tài sản nói trên và không có yêu cầu gì thêm nên HĐXX không xem xét;

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 172 của Bộ luật Hình sự năm 2015 "Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 100 triệu đồng". Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa thì bị cáo là người chưa thành niên không có nghề nghiệp. Do đó, HĐXX quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 172; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 90, Điều 91, Điều 98 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với bị cáo Nguyễn Hữu L .

- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hữu L phạm tội “Công nhiên chiếm đoạt tài sản”.

- Xử phạt: Nguyễn Hữu L 07 (bảy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 14 (mười bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao các bị cáo về Ủy ban nhân dân xã H, huyện Y, tỉnh N nơi bị cáo thường trú để giám sát và giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách của án treo. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

- Án phí và quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 136; 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, buộc bị cáo Nguyễn Hữu L phải chịu 200.000đ án phí HSST.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo L , anh Q và người bào chữa , vắng mặt người bị hại tại phiên tòa. Tuyên bố những người có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án tại Ủy ban nhân dân cấp xã ( phường) nơi người đó cư trú.

Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ