vanban.org

Bản án 23/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tiên Lãng, TP. Hải Phòng Tuyên án 05/07/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Văn Nguyên - Công nhiên chiếm đoạt tài sản - phạm tội công nhiên chiếm đoạt tài sản (điều 172 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 172 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TI ÊN LÃNG
THÀNH PHỐ HẢI PH ÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2018/HS-ST
Ngày 05 - 7 - 2018

NHÂN DANH

NƯ ỚC CỘNG HO

À XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TI ÊN LÃNG - HẢI PH ÒNG

Thành phần Hội đồng xét xử s

ơ th ẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phi ên toà: Ông Nguyễn Văn Chỉnh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Nh òng.

Ông Vũ Đức B ình.

Thư k ý phiên toà: Bà Ngô Thị Ngọc Anh – Thư k ý Toà án nhân dân huyện Tiên Lãng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân

huyện Ti ên Lãng tham gia phiên toà: Ông Đào Duy Tùng - Kiểm sát vi ên.

Ngày 05 tháng 7 năm 2018 tại Trụ sở

Tòa án nhân dân huyện Ti ên Lãng, thành phố Hải Ph òng xét xử công khai vụ án h ình sự sơ th ẩm thụ lý số : 20/2018/TLST-HS ngày 30 tháng 5 năm 2018 theo Quyết định đ ưa v ụ án ra xét xử số 20/2018/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 6 năm 2018 đối với bị cáo:

Bùi Văn N, sinh ngày 23 tháng 11 năm 19XX tại Hải Ph òng; ĐKNKTT và chỗ ở: Số 22/350 đ

ư ờng H, ph ư ờng S, quận H, Hải Ph òng; nghề nghiệp: Lao động tự do ; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông

Bùi Văn N, sinh năm 19XX, con bà Phạm Thị T , sinh năm 19XX, chưa có v ợ con ; tiền án , tiền sự: Ch ưa ; bị áp dụng biện pháp n găn chặn Cấm đi khỏi n ơi cư trú t ừ ng ày 14 /3/2018; có mặt.

- Bị hại: Ông Đỗ Văn C, sinh năm 19 XX; địa chỉ: Thôn T, x ã M, huyện A, thành phố Hải Ph òng; có đơn xin v ắng mặt.

- Ngư ời có quyền lợi, nghĩa vụ li

ên quan:

Bà Phạm Thị T, sinh năm 19 XX, địa chỉ: Số 22/350 đư ờng H, ph ư ờng S, quận H, thành phố Hải Ph òng; có mặt.

Anh Dương Văn T, sinh năm 19 XX; địa chỉ: Số 25/350 đ ư ờng H, ph ư ờng S, quận H, th ành phố Hải Ph òng; có mặt.

- Ngư ời l àm chứng:

Bà Phạm Thị L ; vắng mặt.

Chị Nguyễn Thị T ; vắng mặt.

Bà Nguyễn Th ị L 1; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ s ơ v ụ án v à diễn biến tại p

hiên tòa, nội dung vụ án đư ợc tó m tắt nh ư sau:

Khoảng 1 2 giờ ngày 18/4/2017, Bùi Văn N thuê ông Đỗ Văn C làm xe ôm đi xe máy Jupiter Gravita, BKS: 15N1 - 029.05 chở N guyên từ x ã Mỹ Đức, huyện An Lão đến nh à bà Phạm Thị L (bá ruột N) ở thôn A, x

ã K, huyện T. Khi đến nh à bà L, N ngồi ch ơi m ột lúc rồi yêu cầu ông C tiế p tục chở N đi một số n ơi khác, sau đó ông C chở N quay lại nh à bà L. Đến k hoảng 14 giờ cùng ngày, N thấy ông C dựng xe máy ở ngo ài sân trư ớc cửa nh à, đầu xe quay ra ng õ, chìa khóa cắm sẵn ở ổ điện n ên N nả y sinh ý định chiếm đoạt xe của ông C cầm cố lấy tiền ăn ti

êu. N ngồi l ên xe, nhân lúc ông C đi vào trong nhà chào hỏi mọi ng ư ời để ra về, không có khả năn g ngăn cản N chiếm đoạt xe , N nói “cho cháu mư ợn xe đi ra đây tý” , không đợi ông C trả lời, N nổ máy

xe bỏ chạy. Ông C đuổi theo nh ưng không k ịp.

Sau khi chiếm đoạt đ ư ợc xe máy của ông C, N đi xe đến chỗ anh D

ương Văn T (là hàng xóm với N) đang l àm xây dựn g ở ph ư ờng S ở Dầu, quận Hồng Bàng. Tại đây N hỏi vay anh T 1.500.000 đồng và để lại chiếc xe máy

N chiếm đoạt của ông C , N nói với anh T l à ngày mai mẹ N sẽ trả tiền v

à lấy lại xe. N cầm số tiền vay đư ợc của anh T đi ăn tiêu hết.

Ngày 19/4/2017, bà Phạm Th ị T (mẹ N) đã trả 1.500.000 đồng cho anh T và nhờ anh T mang chiếc xe máy N để lại giao nộp cho cơ quan Công an. Ngày 22/4/2017, anh T đã mang xe bàn giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Ti ên Lãng.

Theo Kết luận định giá t ài sản số 08/KL-ĐG ngày 30/5/2017 của Hội đồng

định giá t ài sản trong tố tụng h ình sự huyện Ti ên Lãng kết luận: Xe máy Jupiter Gravita, BKS: 15N1 - 029.05 đã qua sử dụng trị giá còn lại l à 17.000.000 đồng .

Kết quả thực nghiệm điều tra

xác định : Xe máy Jupiter Gravita, BKS: 15N1 – 029.05 dựng d ư ới sân tr ư ớc cửa nh à bà Lảnh, song song với bậc cửa,

cách vị trí ông C đứng l à 4,4 mét.

Tại C ơ quan đi ều tra, Bùi Văn N đã khai nhận hành vi chiếm đoạt chiếc xe

máy Jupiter Gravita, BKS: 15N1 – 029.05 của ông Đỗ Văn C đem đi cầm c ố lấy tiền ăn ti êu như đ ã nêu ở tr ên.

Bị hại ông Đỗ Văn C khai: Khoảng 12 giờ ngày 18/4/2017 ông đi xe máy Jupiter Gravita, BKS: 15N1 – 029.05 làm xe ôm chở Bùi Văn N từ x ã Mỹ Đức, huyện An L ão đến nh à bà L (bá ruột N) ở xã Khởi Nghĩa , huyện Tiên Lãng. Khi đến n ơ i, N còn yêu cầu ông chở N đi một số n

ơi sau đó quay l ại nhà bà L. Tại đây ông C dựng xe máy ở ngo ài sân trư ớc cửa nh à, đầu xe quay ra ng õ, chìa khóa cắm sẵn ở ổ điện, ông C

đi vào trong nhà chào hỏi mọi ng ư ời để ra về th ì N nổ máy xe bỏ chạy, ông C đuổi t heo nhưng không k ịp n ên ông đã làm đơn t ố giác B ùi Văn N về h ành vi chiếm đoạt xe .

Tại bản Cáo trạng số

21/CT-VKS ngày 30/5/2018, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ti ên Lãng đã truy tố bị cáo Bùi Văn N về tội Công nhiên chiếm đoạt tài sản theo khoản 1 Điều 17 2 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phi ên toà bị cáo khai nhận có h ành vi công nhiên chiếm đoạt tài sản như đã khai tại c ơ quan đi ều tra v à cáo trạng n êu trên.

Ngư ời có quyền lợi, nghĩa vụ

liên quan anh Dương Văn T khai: Chiều ng ày 18/4/2017, Bùi Văn N đi chiếc xe Jupiter Gravita, BKS: 15N1 – 029.05 đến chỗ anh T đang làm hỏi m ư ợn anh 1.500.000 đồng v à để lại chiếc xe N đang đi

đồng thời N nói ngày mai mẹ N sẽ đến trả tiền cho anh và lấy lại xe , nên anh T đã cho N vay tiền . Ngày hôm sau bà Phạm Thị T (mẹ N) đã gặ p anh trả tiền v à nhờ anh mang xe máy N để lại giao nộp cho c ơ quan công an huyện Ti ên Lãng.

Bà Phạm Thị T khai: Tối ng ày 18/4/2017, N có gọi điện cho b à nói về việc Nguyên mư ợn tiền của anh Tỉnh v

à có để lại chiếc xe máy N chiếm đoạt của ng ư ời chở xe ôm , N đề nghị b à trả tiền cho anh T v à đem xe trả lại cho chủ sở hữu.

Bà T đã nhờ anh T đem xe máy N chiếm đoạt đ ư ợc giao nộp cho c ơ quan công an huy ện Tiên Lãng.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố

tại phi ên tòa giữ nguy ên quan điểm đã truy tố đối với bị cáo Bùi Văn N và đề nghị H ội đồng xét xử

:

Căn cứ khoản 1 Điều 172; điểm i, h, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015; Nghị Quyết số 41/2017/QH14 ng ày 20/6/2017 của Quốc hội; xử phạt bị cáo

Bùi Văn N mức án từ 06 đến 12 tháng tù cho hư ởng án treo, 12 đến 24 tháng thử thách về tội Công nhi ên chiếm đoạt t ài sản ; đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo do bị cáo không có thu nhập, t ài sản và có đơn xin mi ễn h ình phạt bổ sung, có xác nhận của chính quyền địa ph

ương .

Về trách nhiệm dân sự:

Không đề nghị xem xét .

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự s ơ th ẩm theo luật định .

NHẬN ĐỊNH CỦA T

ÒA ÁN:

Trên cơ s ở nội dung vụ án, căn cứ v

ào các tài liệu trong hồ s ơ v ụ án đ ã đư ợc tranh tụng tại phi ên tòa, Hội đồng xét xử nh

ận định nh ư sau:

[1] Về h ành vi, quyết định tố tụng của C

ơ quan đi ều tra Công an huyện Ti ên Lãng, Điều tra vi ên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ti ên Lãng và Kiểm sát vi ên trong quá trình điều tra, truy tố đ ã thực hiện đúng về thẩm quyền, tr ình tự thủ tục quy định của Bộ luật

Tố tụng hình sự . Quá trình điều tra, truy tố v à tại phi ên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về h

ành vi, quyết định tố tụng của c

ơ quan ti ến hành tố tụng, ng ư ời tiến h ành tố tụng. Do đó các h ành vi, quyết định tố

tụng của Cơ quan tiến h ành tố tụng, ng ư ời tiến h ành tố tụng đ ã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phi

ên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại c ơ quan đi ều tra, lời khai bị hại,

ngư ời l àm chứng , kết luận định giá v à các chứng cứ, t ài liệu khác có trong hồ s ơ th ể hiện: Hồi 14 giờ ngày 18/4/2017, bị cáo đã có hành vi công khai chiếm đoạt t ài sản l à chiếc xe máy Jupiter Gravita, BKS: 15N1 – 029.05 trị giá 17.000.000 đồng của ông Đỗ Văn Cẩm trong lúc ông Cẩm không có khả nă ng ngăn cản rồi đem đi cầ m cố lấy tiền ăn ti êu, nên đã đủ c ơ s ở kết luận bị cáo Bùi Văn N đã phạm tội Công nhiên chiếm đoạt tài sản , theo khoản 1 Điều 172 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Bị cáo phạm tội tr ư ớc 0 giờ 00 phút ng ày 01/01/2018, nhưng t ội Công nhi ên chiếm đoạt t ài sản theo kh oản 1 Điều 137 B ộ luật H ình sự năm 1999 có khung hình phạt nặng h ơn t ội Công nhi ên chiếm đoạt t ài sản theo khoản 1 Điều 172 B

ộ luật Hình sự năm 2015. Như v ậy việc áp dụng khoản 1 Điều 172

Bộ luật H ình sự năm 2015 sẽ có lợi cho bị cáo. Do

vậy Hội đồng xét xử căn cứ v ào Nghị Quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội; h ư ớng dẫn số 04/TANDTC

-PC ngày 09/01/2018 của T òa án nhân dân Tối cao và khoản 1 Điều 172 Bộ luật H ình sự năm 2015 để áp dụng đối với bị cáo.

Hành vi của bị cáo l à nguy hiểm cho x ã hội , xâm phạm đến quyền sở hữu

của ng ư ời khác , gây mất trật tự trị an x

ã hội .

[3] Về nhân thân v à các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm h

ình sự:

Về tình tiết tăng nặng : Bị cáo không có t ình tiết tăng nặng .

Về nhân thân và tình tiết giảm nhẹ:

Nhân thân bị cáo ch ưa có ti ền án, tiền sự, phạm tội lần đầu, phạm tội ít nghi

êm trọng. Quá trình điều tra v à tại phi ên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải . Sau khi phạm tội đ ã chủ động gọi điện về gia đình để khắc phục hậu quả, b

ản thân bị cáo có n ơi cư trú r õ ràng nên xem xét cho bị cáo đ ư ợc h ư ởng các tình tiết giảm nhẹ

trách nhiệm h ình sự quy định tại các điểm i, h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật H ình sự , đồng thời cho bị cáo đ ư ợc cải tạo ngoài xã hội cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục đối với bị cáo

, giúp bị cáo nhận thức đư ợc sai phạm v à trở th ành công dân tốt.

[4] Về h ình phạt bổ sung: Do bị cáo không có thu nhập

, tài sản và có đơn xin xin miễn h ình phạt bổ sung , nên Hội đồng xét xử

không áp dụng h ình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[5] Về xử lý vật chứng: Đối với số

chiếc xe Jupiter Gravita, BKS: 15N1 – 029.05 bị cáo chiếm đoạt, C ơ quan đi ều tra đ ã thu hồi trả lại cho ông Đỗ Văn C, ông C không có yêu cầu g ì khác nên Hội đồng xét xử

không xem xét.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo mư ợ n của anh D ương Văn T 1.500.000 đồng, bà Phạm Thị T (mẹ bị cáo) đã trả xong cho anh T . Anh T và bà T không có ý kiến hay y êu cầu g ì khác đối với bị cáo

nên Hội đồng xét xử

không xét.

[7] Đối với hành vi bị cáo m ư ợn của anh Dương Văn T 1.500.000 đồng v à để lại chiếc xe bị cáo chiếm đoạt đ

ư ợc cho anh T. Quá tr ình điều tra đ ã xác định anh T không biết chiếc xe máy bị cáo để lại l

à do phạm tội m à có, anh T cũng không kinh doanh cầm cố t ài sản, chỉ v ì bị cáo l à hàng xóm nên anh T cho bị cáo N vay tiền. Đây chỉ l à quan hệ dân sự giữa bị cáo v

à anh T và đã đư ợc giải quyết xong, nên Hội đồng xét xử

không xét.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí h ình sự s ơ th ẩm theo luật định .

Vì các lẽ tr ên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 172; điểm i, h, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017

.

Xử phạt bị cáo

Bùi Văn N 09 (Chín) tháng tù cho hư ởng án treo , 18 (Mư ời tám) tháng thử thách về tội Công nhiên chiếm đoạt tài sản. Thời gian thử thách tính từ ng ày tuyên án sơ th ẩm.

Giao bị cáo B ùi Văn N cho UBND phư ờng H ùng Vương, qu ận Hồng B àng, thành phố Hải Ph òng để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách .

Trư ờng hợp ng ư ời đ ư ợc h ư ởng án treo thay đổi n ơi cư trú th ì Ủy ban nhân dân cấp x ã có trách nhiệm thông báo cho c ơ quan thi hành án h ình sự Công an cấp huyện để l àm thủ tục chuyển giao hồ s

ơ thi hành án treo theo quy định của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu ng ư ời đ ư ợc h ư ởng án treo cố ý vi phạm nghĩa

vụ theo quy định của Luật

Thi hành án hình sự 02 lần trở l ên, thì Tòa án có thể quyết định buộc ng ư ời đó phải chấp h ành hình phạt t ù của bản án đ ã cho hư ởng án treo. Trư ờng hợp thực hiện h

ành vi phạm tội mới th ì Tòa án buộc ng ư ời đó phải chấp h ành hình phạt của bản án tr ư ớc v à tổng hợp h ình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật H

ình sự.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 v

à khoản 2 Điều 136 Bộ luật

Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH về án phí, lệ phí T

òa án.

Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí h ình sự s ơ thẩm .

- Về quy ền kháng cáo:

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ng ày kể từ ng ày tuyên án.

Ngư ời có quyền lợi, nghĩa vụ li

ên quan có quyền kháng cáo bản án về những vấn đề trực tiếp li

ên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của m

ình trong hạn 15 ngày kể từ ng ày tuyên án.

Bị hại có quyền kháng cáo bản án bản án trong hạn 15 ng

ày kể từ ng ày nhận đư ợc bản án hoặc kể từ ng

ày bản án đ ư ợc ni êm yết.

Nơi nh ận:

ỘI ĐỒNG XÉT XỬ S

Ơ TH ẨM

Cỡ chữ