- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Năng Đăng H - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Năng Đăng H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 39/2022/HS-ST Ngày: 24-6-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Văn Quyết.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phạm Minh Tuấn
2. Bà Nguyễn Thị Thu Hằng
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hoàng Trúc Ly – Thư ký Tòa án nhân dân
Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 tham gia phiên tòa:
Ông Hoàng Văn Hoan - Kiểm sát viên.
Trong ngày 24 tháng 6 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 30/2022/TLST-HS ngày 30 tháng 5 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2022/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 6 năm 2022 đối với bị cáo:
Nguyễn Năng Đăng H, sinh ngày: 13/11/1997 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 466/XX đường TKTQ, phường SK, quận TP, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: 20/12/YY đường NNN, phường TQ, quận TP, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: nhân viên giao hàng; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Năng Đăng Q và bà: Trần Thị Ngọc C; tiền sự, tiền án: không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/02/2022 tại Nhà tạm giữ - Công an Quận 10.
(Bị cáo có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Bà Lê Thị Yến Nh, sinh năm 1989 (có đơn xin vắng mặt)
Địa chỉ: 7Y đường NSHL, Phường T, quận TB, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 00 giờ 30 phút, ngày 23/02/2022, tại trước nhà số 43Y đường CT, Phường T, Quận T, Tổ tuần tra Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an Quận 10 phát hiện bị cáo Nguyễn Năng Đăng H điều khiển xe mô tô hiệu Honda Lead, biển kiểm soát số 59P2-707YY chở ông Nguyễn Năng Đăng V ngồi phía sau có biểu hiện nghi vấn nên mời về trụ sở Công an Phường 12, Quận 10 kiểm tra hành chính. Qua kiểm tra phát hiện trong túi xách màu đen có ghi chữ “PEDRO” của bị cáo H có 01 (một) viên nén màu xám là ma túy tổng hợp, bị cáo H khai cất giữ để sử dụng. Công an Phường 12, Quận 10 lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với bị cáo Nguyễn Năng Đăng H chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 10 xử lý. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 10, trưng cầu giám định 01 (một) viên nén màu xám. Tại Kết luận giám định số 1289/KL-KTHS ngày 03/03/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận: viên nén màu xám là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0, 3714 gam, loại MDMA.
Tại cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 10, bị cáo Nguyễn Năng Đăng H khai nhận, vào khoảng 23 giờ 30 ngày 23/02/2022, bị cáo H chở em trai tên Nguyễn Năng Đăng V đến quán R, số 175B CT, Phường 12, Quận 10 để dự tiệc sinh nhật. Tại đây bị cáo H được một người bạn tên “Mo” (không rõ lai lịch, địa chỉ) cho 01 viên ma túy thuốc lắc để sử dụng. Bị cáo H cất viên ma túy vào túi xách để sử dụng sau. Sau đó bị cáo H để túi xách vào trong cốp xe và chở em trai tên Nguyễn Năng Đăng V về thì bị kiểm tra bắt giữ như trên. Việc bị cáo H cất giữ ma túy thì Nguyễn Năng Đăng V hoàn toàn không biết và không có liên quan gì đến số ma túy trên.
Vật chứng vụ án:
- 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Lead BS: 59P2-707YY, số khung: RLHJF7903HY020YYY, Số máy: JF79E0071ZZZ. Qua xác minh xe do bà Lê Thị Yến Nh, sinh năm 1989, hộ khẩu thường trú: 7X đường NSHL, Phường T, quận TB, đứng tên chủ sở hữu. Bà Nh khai, ngày 22/2/2022, bà Nh cho bị cáo H mượn xe trên để đi dự tiệc, việc bị cáo H sử dụng xe mô tô trên để tàng trữ chất ma túy bà Nh hoàn toàn không biết. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 10 đã xử lý vật chứng trả chiếc xe trên cho bà Nh.
- 01 (một) Điện thoại di động hiệu Iphone màu đen, có số IMEI: 353050090722446 là tài sản riêng của bị cáo H, không liên quan đến vụ án. Theo yêu cầu của bị cáo H, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 10 đã giao trả chiếc điện thoại trên cho ông Nguyễn Năng Đăng Q, là cha ruột của bị cáo H.
- 01 một túi xách màu đen, có ghi chữ “PEDRO”; bị cáo Nguyễn Năng Đăng H sử dụng để cất giữ trái phép ma túy.
- 01 gói đã được niêm phong, có chữ ký của giám định viên Bùi Công Danh và điều tra viên Nguyễn Phương Chiến, số vụ 256/2022, bên trong chứa 0,1674 gam ma túy loại MDMA, còn lại sau giám định.
Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 đã có Quyết định c Hển vật chứng đến Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10 chờ xử lý.
Tại Bản Cáo trạng số 30/CT-VKSQ10 ngày 27 tháng 05 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố:
Bị cáo Nguyễn Năng Đăng H về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa hôm nay:
- Bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như lời khai tại cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh công bố bản luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo đúng theo nội dung bản Cáo trạng. Sau khi phân tích tính chất và hậu quả của vụ án đối với xã hội, nêu lên những tình tiết giảm nhẹ trách Nhiệm hình sự (thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải); đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo: Nguyễn Năng Đăng H từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù, miễn phạt tiền bổ sung đối với bị cáo và đề nghị xử lý vật chứng.
- Ý kiến của bị cáo: Không có ý kiến gì tranh luận.
- Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo rất hối hận về hành vi của mình, mong Hội đồng xét xử khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên thu thập; do bị can, bị cáo, người tham gia tố tụng khác cung cấp đều thực hiện đúng trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về những chứng cứ, tài liệu đã thu thập, cung cấp. Do đó, những chứng cứ, tài liệu trong vụ án đều hợp pháp.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 10, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng như đã nêu trên. Tại các bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung bị can mà bị cáo đã trình bày nội dung lời khai là hoàn toàn tự nguyện. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Nhận định hành vi và điều khoản xét xử:
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra cũng như trước phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thừa nhận hành vi của mình; qua lời khai nhận của bị cáo, đối chiếu với lời khai của người làm chứng, nội dung biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ được, bản kết luận giám định về ma túy, cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở xác định bị cáo Nguyễn Năng Đăng H đã thực hiện hành vi tàng giữ trái phép: 0,3714 gam, loại MDMA nhằm mục đích sử dụng nên bị cáo bị truy tố và xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Việc áp dụng hình phạt, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
Ma túy là mối hiểm họa cho gia đình và xã hội, nó đã lây lan và phát triển một cách nghiêm trọng, làm suy đồi và băng hoại nhân cách con người, là một trong những nguyên nhân dẫn đến các tội phạm hình sự khác; trong khi chính quyền nhân dân các cấp đang ra sức thực hiện mục tiêu 3 giảm: “Giảm ma túy, giảm mại dâm, giảm tội phạm”; nhưng bị cáo đã đi ngược lại mục tiêu chung trên, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Do vậy hành vi phạm tội của bị cáo cần phải bị xử phạt nghiêm minh bằng luật hình với mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cụ thể cần thiết phải cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian nhất định để cải tạo giáo dục bị cáo thành người tốt cho xã hội, đồng thời cũng để răn đe, giáo dục đối với những người thực hiện hành vi tương tự, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tệ nạn tại địa phương.
Về tình tiết tăng nặng: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ: Tuy Nhên, xét thấy bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; do vậy Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo; đồng thời xét thấy bị cáo mới phạm tội lần đầu nên Hội đồng xét xử miễn áp dụng hình phạt bổ sung.
Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp khác:
Về xử lý vật chứng:
- Đối với: 01 gói vật chứng đã được niêm phong, bên ngoài có chữ ký của giám định viên Bùi Công Danh và điều tra viên Nguyễn Phương Chiến bên trong chứa 0,1674 gam ma túy loại MDMA (mẫu vật hoàn lại sau giám định) là vật lưu hành bất hợp pháp; do vậy Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 tịch thu và tiêu hủy.
- Đối với 01 túi xách màu đen có ghi chữ “Pedro” là dụng cụ bị cáo sử dụng cất giấu ma túy và không có giá trị; do vậy Hội đồng xét xử căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; tịch thu và tiêu hủy.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
- Căn cứ vào điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
- Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Năng Đăng H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Năng Đăng H 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 23/02/2022.
Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Tịch thu, tiêu hủy: 01 gói vật chứng đã được niêm phong, bên ngoài có chữ ký của giám định viên Bùi Công Danh và điều tra viên Nguyễn Phương Chiến bên trong chứa 0,1674 gam ma túy loại MDMA (mẫu vật hoàn lại sau giám định) và 01 túi xách màu đen có ghi chữ “Pedro”.
(Tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 27/5/2022 giữa Công an Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh và Chi cục Thi hành dân sự Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh).
Buộc: Bị cáo Nguyễn Năng Đăng H chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án. Thời hạn kháng cáo là 15 ngày tính từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - Sở Tư pháp TP.HCM; (1) - TAND TP.HCM; (1) - VKSND Q.10; (4) - Công an Q.10; (2) - Chi cục THADS Q.10; (1) - Người tham gia tố tụng; (2) - Lưu: VP, THAHS, Hồ sơ. (6) | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Văn Quyết |