vanban.org

Bản án 39/2022/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Cầu Giấy, TP. Hà Nội Tuyên án 16/03/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn H phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.

Xử phạt: Đỗ Văn H 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt quả tang 26/6/2021. Hình phạt bổ sung: Miễn phạt tiền đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Văn H - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn H phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẦU GIẤY
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

-----------------
Bản án số: 39/2022/HS-ST
Ngày: 16/03/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẦU GIẤY - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Tô Thanh Tú

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Bùi Thị Minh Hoa

2. Bà Đỗ Hảo Hoàn

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thanh Bình - Thư ký Tòa án nhân dân Quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Phạm Hồng Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 03 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội, xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 273/2021/HS-ST ngày 09/11/2021 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 278/QĐXX-ST ngày 12/11/2021, quyết định hoãn phiên tòa số 89 ngày 25/11/2021, quyết định hoãn phiên tòa số 96 ngày 22/12/2021, quyết định hoãn phiên tòa số 01 ngày 07/01/2022 và quyết định hoãn phiên tòa số 13 ngày 18/2/2022 đối với bị cáo:

Đỗ Văn H (tên gọi khác: Không), giới tính: Nam; sinh năm 1995 tại tỉnh Hưng Yên; ĐKNKTT và chỗ ở: thôn X, xã Đ, huyện V, tỉnh Hưng Yên; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Đỗ Văn H1; Con bà: Lê Thị X (tên gọi khác Lê Thị H2); Tiền án, tiền sự: Không; Danh chỉ bản số 469 lập ngày 05/07/2021; Bị cáo bị bắt quả tang ngày 26/6/2021; tạm giữ ngày 27/06/2021; tạm giam ngày 06/07/2021; hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 01 Công an thành phố Hà Nội. Có mặt tại phiên tòa.

*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Phan Thị Mai T, sinh năm 1998.

Trú tại: số 46/3 ấp T, xã Đ, huyện T, tỉnh Bến Tre.

Vắng mặt tại phiên tòa

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ 25 phút ngày 26/6/2021 tổ công tác Công an phường Nghĩa Tân, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội làm nhiệm vụ tại khu vực đối diện số 132 phố Trần Tử Bình, phường Nghĩa Tân, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội phát hiện Đỗ Văn H và Phan Thị Mai T có dấu hiệu của hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Tổ công tác đã thu giữ tại khu vực vỉa hè, dưới chân vị trí của H đang đứng có 01 gói giấy màu trắng dán băng dính, bên trong có chứa 10 viên nén màu hồng, 02 túi nilong chứa tinh thể màu trắng. Tại chỗ, H khai nhận tinh thể màu trắng và viên nén màu hồng là ma túy tổng hợp, H mang đến để bán cho T. Tổ công tác đã lập biên bản thu giữ, niêm phong tang vật đồng thời đưa H, T về trụ sở làm rõ. Ngoài ra, tổ công tác còn thu giữ của H 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus màu đỏ đen, số tiền 6.500.000 đồng; thu giữ của Phạn Thị Mai T 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S Plus.

Tại cơ quan điều tra, Đỗ Văn H khai nhận: Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 26/6/2021 H đang ở nhà tại thôn X, xã Đ, huyện V, tỉnh Hưng Yên thì nhận được cuộc điện thoại gọi đến từ số 0388.263738 của một người bạn xã hội tên Chuyển gọi vào số điện thoại 0981133797 của H và bảo H đến nhà nghỉ Minh Châu ở xã Như Quỳnh, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên gặp một người đàn ông để lấy hàng đi giao cho khách ở Hà Nội và thu về 13.500.000 đồng. Xong việc, Chuyển sẽ chia tiền cho H. Chuyển nhắn tin cho H số điện thoại 0961.022.497 của Phan Thị Mai T là khách mua ma túy. Sau đó, H đi đến nhà nghỉ Minh Châu và gặp một người đàn ông không quen biết và nhận của anh ta 01 gói giấy màu trắng bên ngoài có dán băng dính, H biết đó là ma túy để giao cho khách nên đã nhận lấy và cất vào túi quần bên phải rồi gọi điện thoại cho anh Nguyễn Văn T (sinh năm 1990; HKTT: xã Đ, huyện V, tỉnh Hưng Yên) là lái xe taxi và bảo anh T chở đi Hà Nội có việc. Khoảng 10 phút sau anh T điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 89A-120.75 đón H trước cửa nhà nghỉ Minh Châu đi về Hà Nội. H liên lạc với T thì được hẹn giao ma túy tại địa chỉ số 116 phố Trần Tử Bình, phường Nghĩa Tân, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội. Khi đi đến nơi, H bảo anh T ngồi đợi trên xe, H xuống đi vệ sinh và đợi T đến nhưng chưa kịp giao ma túy cho T thì bị lực lượng công an kiểm tra bắt quả tang như nêu trên. Do sợ hãi nên H đã vứt gói ma túy xuống mặt đất gần vị trí đang đứng.

Phan Thị Mai T khai do có nhu cầu sử dụng ma túy nên T được một người bạn xã hội tên Khải cho số điện thoại 0981.133.797 để liên lạc mua ma túy. T gọi điện từ số điện thoại 0961.072.497 gọi đến số điện thoại trên để mua 10 viên ma túy kẹo và 02 chỉ ke với giá 13.500.000 đồng, hẹn giao ma túy tại địa chỉ 132 phố Trần Tử Bình. Khi T đang trên đường ra gặp H để nhận ma túy thì bị lực lượng công an kiểm tra bắt quả tang.

Xét nghiệm ma túy đối với Đỗ Văn H cho kết quả dương tính.

Xét nghiệm ma túy đối với Phan Thị Mai T cho kết quả dương tính.

Theo bản Kết luận giám định số 5321/KLGĐ-PC09 ngày 03/7/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hà Nội kết luận: 10 viên nén màu hồng bên trong 01 túi nilong đều là ma túy loại MDMA, tổng khối lượng: 6,010 gam; tinh thể màu trắng bên trong 02 túi nilong đều la ma túy loại Ketamine, tổng khối lượng: 2,460 gam.

Đối với Phan Thị Mai T là đối tượng mua ma túy của H, chưa kịp nhận ma túy thì bị lực lượng công an bắt quả tang nên không đủ căn cứ xử lý hình sự. Cơ quan công an đã ra quyết định xử phạt hành chính Phan Thị Mai T về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 điều 21 Nghị định 167/2013/NĐ-CP của Chính phủ, hình thức xử phạt là phạt tiền, số tiền xử phạt là 750.000 đồng.

Đối với anh Nguyễn Văn T là lái xe taxi chở H, quá trình điều tra xác định anh T không biết việc H mang theo ma túy trong người đi bán nên Cơ quan điều tra không xử lý.

Đối với chiếc điện thoại di động Iphone 8 Plus thu giữ của H được xác định là tài sản của H, H dùng là phương tiện dùng để liên lạc mua bán ma túy. Số tiền 6.500.000 đồng là tiền của H được xác định không liên quan đến hành vi phạm tội.

Đối với chiếc điện thoại di động Iphone 6 Plus thu giữ của Phan Thị Mai T được xác định là tài sản cá nhân của T, được T dùng để liên lạc mua ma túy.

Đối tượng tên Chuyển và đối tượng đã giao ma túy cho H tại khu vực nhà nghỉ Minh Châu do H không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể, tra cứu thông tin thuê bao số điện thoại 0388.263.738 của đối tượng Chuyển thì được cung cấp không có thông tin chủ thuê bao nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh làm rõ.

Đối tượng Khải cho T số điện thoại của H để liên lạc mua ma túy do T không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh làm rõ.

Tại bản cáo trạng số 275/CT-VKSCG ngày 08/11/2021 của Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy truy tố Đỗ Văn H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm p khoản 2 điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa sau khi phân tích vai trò, tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo đã kết luận giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung bản Cáo trạng.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm p khoản 2 điều 251; điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Đỗ Văn H từ 07 năm 03 tháng đến 07 năm 06 tháng tù.

Miễn phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì chứa ma túy đã niêm phong.

Tịch thu, phát mai, sung quỹ Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động thu giữ của bị cáo do là phương tiện dùng để phạm tội.

Trả lại cho bị cáo số tiền 6.500.000 đồng.

Tịch thu, phát mai, sung quỹ Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động thu giữ của Phan Thị Mai T do là phương tiện dùng để phạm tội.

Tại phiên tòa bị cáo Đỗ Văn H khai nhận như đã khai tại cơ quan điều tra. Bị cáo thừa nhận Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố bị cáo là hoàn toàn đúng hành vi mà bị cáo đã thực hiện.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Phan Thị Mai T vắng mặt tại phiên tòa.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Cầu Giấy, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với những lời khai của bị cáo đã khai tại cơ quan điều tra cùng các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập, có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 21 giờ 25 phút ngày 26/6/2021 tại khu vực số nhà 132 phố Trần Tử Bình, phường Nghĩa Tân, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội, Đỗ Văn H đã có hành vi tàng trữ trái phép 6,010 gam ma túy MDMA và 2,460 gam ma túy Ketamine mục đích để bán kiếm lời. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tội danh và hình phạt được quy định tại điểm p khoản 2 điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bởi ma tuý là chất độc dược huỷ hoại sức khoẻ con người và gây tác hại xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội, là nguồn gốc gây nên nhiều tội phạm khác. Hành vi đó của bị cáo đã xâm phạm chế độ quản lý độc quyền các chất ma túy của Nhà nước, xâm phạm trật tự công cộng, tiếp tay cho tệ nạn ma túy hoành hành. Hành vi bị cáo thực hiện có tính chất nghiêm trọng. Vì vậy, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian bằng hình phạt tù nghiêm khắc nhằm mục đích giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Tại phiên tòa và tại cơ quan điều tra, bị cáo thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn, hối cải nên cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Bị cáo có hoàn cảnh khó khăn được chính quyền địa phương nơi cư trú xác nhận. Bị cáo là người chưa có tiền án, tiền sự nên cho bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017)

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập nên miễn phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

- MDMA và Ketamine chất ma túy bị cấm lưu hành nên cần tịch thu, tiêu hủy.

- Chiếc điện thoại di động kiểu dáng Iphone 8 Plus thu giữ của bị cáo là phương tiện dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu, phát mại, sung quỹ Nhà nước.

- Số tiền 6.500.000 đồng thu giữ của bị cáo do không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo.

- Chiếc điện thoại di động kiểu dáng Iphone 6 Plus thu giữ của chị Phan Thị Mai T là phương tiện dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu, phát mại, sung quỹ Nhà nước.

Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn H phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.

Căn cứ điểm p khoản 2 điều 251; điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt: Đỗ Văn H 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt quả tang 26/6/2021.

Hình phạt bổ sung: Miễn phạt tiền đối với bị cáo.

* Về xử lý vật chứng: Căn cứ điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015.

- Tịch thu, tiêu hủy 01 phong bì niêm phong có chữ ký của Đỗ Văn H và chữ ký của giám định viên Trương Trọng V trên mép dán phong bì niêm phong, có chứa: 10 (mười) viên nén màu hồng bên trong 01 túi nilong đều la ma túy loại MDMA, tổng khối lượng 6,010 gam; tinh thể màu trắng bên trong 02 túi nilong đều là ma túy loại Ketamine, tổng khối lượng 2,460 gam.

- Tịch thu, phát mại, sung quỹ Nhà nước của bị cáo 01 chiếc điện thoại di động kiểu dáng Iphone 08 Plus màu đỏ đen, bên trong có sim điện thoại (không xác định được số sim). Điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng.

- Tịch thu, phát mại, sung quỹ Nhà nước của chị Phan Thị Mai T 01 chiếc điện thoại di động kiểu dáng Iphone 06 Plus màu trắng, bên trong có sim điện thoại (không xác định được số sim). Điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng.

Hiện các vật chứng trên đang được lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự quận Cầu Giấy theo Biên bản giao nhận vật chứng số 054 GN/THA-CA ngày 08/11/2021.

- Trả lại cho bị cáo số tiền 6.500.000 (sáu triệu năm trăm nghìn) đồng. theo Giấy nộp tiền vào tài khoản lập ngày 08/11/2021 vào tài khoản số 3949.0.104179 của Chi cục thi hành án dân sự quận Cầu Giấy tại Kho bạc nhà nước Cầu Giấy.

* Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; khoản 1 Mục I Danh mục án phí, lệ phí Tòa án năm 2009; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 3/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội. Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

* Về quyền kháng cáo: Căn cứ các điều 331; 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo phần quyết định liên quan đến quyền và nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án.

Cỡ chữ