- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Đình L - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phạm Đình L phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Nghị định số 73/2018/NĐ-CP Quy định các danh mục chất ma túy…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN SƠN TỈNH TUYÊN QUANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 39/2022/HS-ST Ngày: 04/5/2022 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN SƠN, TỈNH TUYÊN QUANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Thuỷ
- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đặng Thị Huệ và bà Hà Thị Vinh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Quan Thị Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh Tuyên Quang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Y, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Huyền Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Y, tỉnh Tuyên Quang mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 33/2022/TLST-HS, ngày 08 tháng 4 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2022/QĐXXST-HS, ngày 22/4/2022, đối với bị cáo:
Họ và tên: Phạm Đình L, sinh ngày 14/7/1964, tại tỉnh Tuyên Quang.
Nơi cư trú: Thôn 6, xã M, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn 7/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Đình P (đã chết) và bà Đỗ Thị M (đã chết); vợ Tạ Thị H sinh năm 1966; con có 02 con, con lớn sinh năm 1987, con nhỏ sinh năm 1990;
Tiền án: Không
Tiền sự: Ngày 24/5/2021 bị Công an huyện Y, tỉnh Tuyên Quang, xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy và sử dụng trái phép chất ma túy.
Nhân thân: Bản án số 11/2005/HSST ngày 07/3/2005 của Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh Tuyên Quang xử phạt 15 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, bồi thường cho bị hại 929.000 đồng, án phí HSST 50.000 đồng và án phí DSPT 50.000 đồng (nộp án phí hình sự, dân sự sơ thẩm ngày 05/7/2005, chấp hành xong hình phạt tù ngày 11/02/2006).
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/12/2021. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Tuyên Quang. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ ngày 28/12/2021, Phạm Đình L, trú tại Thôn 6, xã M, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang một mình đi nhờ xe máy của người qua đường đến khu vực bến xe khách thành phố T để tìm mua ma túy về sử dụng. Tại đây, L gặp và mua của người đàn ông (không biết tên, tuổi, địa chỉ) 02 gói nhỏ ma túy được gói ngoài bằng giấy bạc màu vàng, bên trong chứa chất bột màu trắng với giá 200.000 đồng. L cầm cất giấu 02 gói ma túy vừa mua được vào túi ngực bên trái của áo khoác đang mặc rồi đi nhờ xe một người qua đường về đến thôn 5, xã M thì xuống xe, khoảng 9 giờ cùng ngày, khi L đang đi bộ theo đường bê tông vào nghĩa trang thôn 5 để sử dụng ma túy thì bị tổ công tác Công an xã M, huyện Y đang làm nhiệm vụ nghi vấn, kiểm tra, L tự giác giao nộp 02 gói ma túy vừa mua được, khai nhận là heroine, mua về để sử dụng. Hồi 9 giờ 30 phút cùng ngày, tổ công tác Công an xã M tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với L, thu giữ, niêm phong số ma túy theo quy định. Tiến hành xét nghiệm tìm chất ma túy đối với L kết quả dương tính (+) (có chất ma túy trong cơ thể), do ngày 26/12/2021 L đã sử dụng ma túy mua của người đàn ông (không biết tên, tuổi, địa chỉ) tại bến xe khách thành phố T.
Kết luận giám định số 68/GĐKTHS ngày 03/01/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang, kết luận: mẫu vật thu giữ của Phạm Đình L gửi giám định là ma túy, loại Heroine; khối lượng 0,162g (không phẩy một sáu hai gam).
Quá trình điều tra, bị cáo Phạm Đình L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Trên cơ sở hành vi của bị cáo Viện kiểm sát nhân dân huyện Y đã ban hành Cáo trạng số 40/CT-VKSYS, ngày 07 tháng 4 năm 2022, truy tố bị cáo Phạm Đình L có lý lịch nêu trên về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố bị cáo Phạm Đình L phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Phạm Đình L từ 12 đến 15 tháng tù. Thời hạn tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 28/12/2021.
- Áp dụng: Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy số Heroine còn lại là 0,112g (không phẩy một một hai gam) Heroine được niêm phong trong bì niêm phong, mặt sau trên các mép dán có chữ ký giáp lai của Phạm Đình L, thành phần tham gia niêm phong và 05 hình dấu giáp lai của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang.
- Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội để quyết định về án phí; áp dụng các Điều 331, 332, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự để tuyên quyền kháng cáo đối với bị cáo.
Bị cáo không tranh luận với luận tội của đại diện Viện kiểm sát, nói lời sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất để sớm trở về gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi của bị cáo: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, phù hợp với biên bản bắt ngườiphạm tội quả tang, vật chứng đã thu giữ, cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã có đủ cơ sở để kết luận:
Hồi 09 giờ 30 phút ngày 28/12/2021, tại thôn 5, xã M, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang: Phạm Đình L, trú tại Thôn 6, xã M, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang có hành vi tàng trữ trái phép 0,162g (không phẩy một sáu hai gam) Heroine, số thứ tự 9 thuộc danh mục IA, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018, của Chính phủ, với mục đích để sử dụng, bị tổ công tác Công an xã Mphát hiện bắt quả tang.
Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Hành vi phạm tội của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma tuý, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo nhận thức rõ tác hại của ma túy, từng bị xử phạt hành chính về hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý nhưng không lấy đó làm bài học mà lại phạm tội, ngoài ra bị cáo có nhân thân xấu, đã từng bị xử phạt 15 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Vì vậy, cần xử bị cáo mức hình phạt tù giam nghiêm khắc mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời phòng ngừa tội phạm chung.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
- Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo không có tài sản nên không áp dụng hình phạt tiền bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Qúa trình điều tra Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã thu giữ 0,162 gam Heroine, đã đem giám định 0,05 gam số còn lại là 0,112 gam. Là tang vật của vụ án thuộc danh mục Nhà nước cấm sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Về quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Y, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Y, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Nội dung khác:
- Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Phạm Đình L ngày 04/01/2022, Công an huyện Y đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 02/QĐ-XPHC, xử phạt bằng hình thức: Cảnh cáo.
- Đối với 02 người đàn ông đã bán trái phép ma túy cho Phạm Đình L tại khu vực bến xe khách thành phố T, tỉnh Tuyên Quang, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã áp dụng các biện pháp điều tra theo quy định, nhưng không xác định được tên, tuổi, địa chỉ cụ thể, nên không có căn cứ để xử lý trong vụ án.
Vì vậy Hội đồng xét xử không đề cập xử lý các vấn đề nêu trên.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự:
- Tuyên bố: Bị cáo Phạm Đình L phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Xử phạt bị cáo Phạm Đình L 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 28/12/2021.
2. Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy 0,112g (không phẩy một một hai gam) Heroine được niêm phong trong bì niêm phong, mặt sau trên các mép dán có chữ ký giáp lai của Phạm Đình L, thành phần tham gia niêm phong và 05 hình dấu giáp lai của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang. (Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Y với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Y ngày 13/4/2022).
3. Căn cứ: Điều 136, 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:
- Bị cáo Phạm Đình L phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tuyên Quang; - VKSND tỉnh Tuyên Quang; - VKSND huyện Y; - Công an huyện Y; - Chi Cục THADS huyện Y; - Sở Tư pháp tỉnh Tuyên Quang; - Trại tạm giam Công an tỉnh TQ; - Bị cáo; - Hồ sơ vụ án; - Thi hành án hình sự; - Lưu HS; - Lưu TA. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Xuân Thủy |