- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tr mua bán MT - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn Tr, phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRIỆU SƠN TỈNH THANH HOÁ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 39/2022/HS-ST Ngày: 01 - 6 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRIỆU SƠN, TỈNH THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Ngọc Tuấn
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Bá Long
2. Ông Hoàng Văn Ninh
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Trọng Huỳnh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hoá.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Ông Đào Hải Toàn - Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hoá, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 31/2022/TLST-HS ngày 06 tháng 5 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2022/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 5 năm 2022 đối với bị cáo:
Bùi Văn Tr, sinh năm 1987; Tại: Xã D, huyện Tr, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn 6, xã D, huyện Tr, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Bùi Ngọc T và bà Lê Thị Ng; Có vợ là Vũ Thị L (đã ly hôn) và có 01 con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không. Bị tạm giữ từ ngày 26/01/2022 đến ngày 01/02/2022 chuyển tạm giam cho đến nay; Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 14 giờ, ngày 26 tháng 01 năm 2022, Trương Văn C đến nhà Bùi Văn Tr hỏi mua 300.000 đồng ma túy, Tr đồng ý. Trương Văn C lấy 300.000 đồng (trong đó 01 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng, 01 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng) đưa cho Tr, nhận tiền Tr cất vào túi áo ngực bên trái đang mặc và đưa cho C 01 túi ma túy đá. C cầm túi ma túy trên tay đi vào phòng ngủ cùng Tr, thì thấy trong phòng có Nguyễn Hữu L, sinh năm 1989 ở xóm Cộng, xã Đông Tân, thành phố Thanh Hóa; Phạm Văn B, sinh năm 1991 ở khu phố Toàn Tân, thị trấn Rừng Thông, huyện Đông Sơn đang ngồi trên sạp. Cùng lúc, Tổ công tác Đội Kinh tế - Ma túy Công an huyện Triệu Sơn vào kiểm tra phát hiện bắt quả tang Trương Văn C cầm trên tay phải 01 túi nilon màu trắng, mép dính màu xanh, bên trong chứa chất rắn màu trắng dạng tinh thể nghi là ma túy, tiến hành lập biên bản, niêm phong tang vật, ký hiệu là M3. Qua kiểm tra, Tổ công tác phát hiện trên sạp có 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm: 01 chai nhựa màu trắng có nắp nhựa màu đỏ, nắp nhựa màu đỏ được gắn với một ống nhựa màu trắng bằng băng dính màu đen, thân chai nhựa được gắn một ống tre màu nâu; 01 hộp nhựa màu trắng, bên trong chứa 01 túi nilon màu trắng có mép dính màu trắng, bên trong túi nilon chứa chất rắn màu trắng, dạng tinh thể nghi là ma túy đá, 24 viên nén màu hồng nghi là ma túy trong xô nhựa chứa nước màu xanh ở góc phòng ngủ, đã tiến hành thu giữ, niêm phong ký hiệu là M1 và M2, thu giữ số nước màu hồng trong xô nhựa ký hiệu là M4 và các đồ vật tiền có liên quan, đồng thời đưa các đối tượng về Cơ quan điều tra tiến hành lấy lời khai.
Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Bùi Văn Tr thu giữ: 01 B thuỷ tinh màu trắng, nắp B có gắn 01 ống thủy tinh màu trắng trên nóc tủ nhà bếp.
Cơ quan điều tra đưa Bùi Văn Tr, Trương Văn C, Phạm Văn B, Nguyễn Hữu L đến Tr tâm y tế huyện Triệu Sơn để xét nghiệm chất ma túy.
Qua xét nghiệm, Trương Văn C, Phạm Văn B, Nguyễn Hữu L âm tính với ma túy; Bùi Văn Tr dương tính với Methamphetamine.
Tại bản kết luận giám định số 677/KL-KTHS ngày 29/01/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hoá kết luận: Chất rắn màu trắng dạng tinh thể của phong bì niêm phong kí hiệu M1 gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 1,519g loại: Methamphetamine; 24 viên nén màu hồng của phong bì niêm phong kí hiệu M2 gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 1,525g loại: Methamphetamine. Chất rắn màu trắng dạng tinh thể của phong bì niêm phong kí hiệu M3 gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,058g loại: Methamphetamine. Chất lỏng màu hồng đựng trong chai nhựa ký hiệu là M4, Phòng Kỹ thuật hình sự từ chối giám định do không có đủ năng L, điều kiện cần thiết cho việc giám định.
Tại bản kết luận giám định số 850/KL-KTHS ngày 23/02/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hoá kết luận: Chất màu nâu bám dính bên trong ống tre gắn trên chai nhựa của túi đựng hồ sơ niêm phong gửi giám định là ma túy, loại: Methamphetamine, không xác định được khối lượng chất màu nâu bám dính.
Tại bản kết luận giám định số 1567/KL-KTHS ngày 24 tháng 03 năm 2022 của Viện Khoa học hình sự - Bộ Công an, kết luận: Mẫu chất lỏng màu hồng ký hiệu T2 gửi giám định có chứa chất ma túy Methamphetamine; thể tích chất lỏng là 500ml; không xác định được nồng độ, khối lượng Methamphetamine có trong mẫu.
Tại bản cáo trạng số 31/CT-VKS-TS ngày 04/5/2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hoá đã truy tố Bùi Văn Tr về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Triệu Sơn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị áp dụng: Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt Bùi Văn Tr từ 04 năm đến 04 năm 03 tháng tù; Đề nghị áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy toàn bộ chất ma túy là Methamphetamine là mẫu vật còn lại sau giám định và 01 hộp cát tông, 01 B thủy tinh, 01 bật lửa, tịch thu sung quỹ số tiền 300.000đ và không áp dụng hình phạt bổ sung là tiền đối với bị cáo.
Lời nói sau cùng bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để sớm được trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Triệu Sơn, Điều tra viên; Viện Kiểm sát nhân dân huyện Triệu Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Bùi Văn Tr đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố. Đối chiếu lời khai nhận của bị cáo với lời khai của người làm chứng, kết quả giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án là hoàn toàn phù hợp; Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Vào hồi 14 giờ ngày 26/01/2022, Tổ công tác Công an huyện Triệu Sơn bắt quả tang tại nhà Bùi Văn Tr ở thôn 6, xã Dân Lý, huyện Triệu Sơn. Tr có hành vi bán trái phép 0,058g ma túy loại Methamphetamine cho Trương Văn C và tàng trữ 3,044 ma túy loại Methamphetamine mục đích để bán và sử dụng. Tổng số ma túy Bùi Văn Tr tàng trữ trái phép nhằm mục đích sử dụng và bán cho người khác là: 3,102gam Methamphetamine. Như vậy hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
. Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi mua bán trái phép chất ma tuý của Tr đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, hành vi đó là rất nghiêm trọng, mang tính nguy hiểm cao cho xã hội. Bị cáo phải biết rằng ma tuý là hiểm hoạ, là nguyên nhân gây ra sự suy thoái về đạo đức và cũng là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác, ảnh hưởng lớn đến trật tự trị an xã hội. Căn cứ vào hành vi phạm tội của bị cáo cần phải được xử lý nghiêm khắc để giáo dục bị cáo và nhằm cảnh tỉnh răn đe phòng ngừa những kẻ có ý đồ phạm tội như bị cáo. Nên cần xử cách ly Tr ra khỏi cộng đồng xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục là cần thiết.
. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo. Nên cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật.
. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định của pháp luật bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có việc làm ổn định, không có tài sản riêng. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
. Về xử lý vật chứng: Số Methamphetaminhe (vật chứng còn lại sau giám định) thu được là vật Nhà nước cấm lưu hành và 01 hộp cát tông, 01 B thủy tinh, 01 bật lửa mà Tr dùng cất giấu và sử dụng ma túy hiện nay không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy. Đối với số tiền 300.000đ thu giữ là tiền do phạm tội mà có nên cần tịch thu nộp ngân sách.
. Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo, do bị cáo không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra không xác định được người này, nên không có căn cứ để xử lý.
Đối với Trương Văn C mua 01 gói ma túy của Tr nhằm mục đích sử dụng, qua giám định có khối lượng là 0,058gam, mặt khác C chưa bị xử lý vi phạm hành chính và chưa bị kết án về hành vi và các tội liên quan đến ma túy, do đó hành vi của C chưa đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Triệu Sơn đã ra Quyết định xử phạt hành chính đối với Trương Văn C là chính xác.
. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn Tr, phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Bùi Văn Tr: 04 (Bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ: 26/01/2022.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
Tịch thu tiêu huỷ số Methamphetamine còn lại sau giám định có trong bì niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa và 01 hộp cát tông ghi số 1567/C09 (TT2), 01 B thủy tinh màu trắng nắp B gắn 1 ống thủy tinh màu trắng, 01 bật lửa có dán chữ Hoa Việt. (Hiện đang được lưu giữ tại Chi cục thi hành án huyện Triệu Sơn theo biên bản giao nhận ngày 16/5/2022).
Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 300.000đồng. (Hiện đang được lưu giữ tại Chi cục thi hành án huyện Triệu Sơn theo Ủy nhiệm chi ngày 12/5/2022 và Quyết định chuyển tiền ngày 12/5/2022 của Công an huyện Triệu Sơn).
- Về án phí: Áp dụng: Khoản 2 Điều 136 Bộ Luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, buộc bị cáo Bùi Văn Tr phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo: Áp dụng: Điều 331, 333 Bộ Luật tố tụng hình sự; Bị cáo Bùi Văn Tr có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Thanh Hóa; - VKSND huyện Triệu Sơn; - Công an huyện Triệu Sơn; - Thi hành án HS; dân sự; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Ngọc Tuấn |