vanban.org

Bản án 39/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 12/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Văn L và Mai Văn B phạm tội: “Đánh bạc”.

Xử phạt: 1/ Bị cáo Nguyễn Văn L 39 (Ba mươi chín) tháng tù. Hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 27/7/2022); 2/ Bị cáo Mai Văn B 36 (Ba mươi sáu) tháng tù. Hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 27/7/2022). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn L, Mai Văn B phạm tội "Đánh bạc" - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Văn L và Mai Văn B phạm tội: “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN ND HUYỆN NGA SƠN
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 39/2022/HSST
Ngày: 12/12/2022.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGA SƠN, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tạ Văn Tuyển.

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Nguyễn Văn Quản.

2/ Bà Dương Thị Thắm.

Thư ký phiên tòa: Ông Phan Thanh Tùng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Thanh Hóa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Mai Thị Tâm - Kiểm sát viên.

Ngày 12/12/2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện N, mở phiên tòa để xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 37/2022/TLST - HS ngày 03/11/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2022/QĐXXST-HS ngày 29/11/2022 đối với các bị cáo:

1/ Nguyễn Văn L - Sinh năm 1994; sinh trú quán: Thôn 4, H, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đình D và bà Phạm Thị L; có vợ là Nguyễn Thị L và có 01 con sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/7/2022 đến nay, có mặt.

2/ Mai Văn B - Sinh năm 1990; sinh trú quán: Thôn Nội 1, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Mai Văn Ph và bà Vũ Thị Th; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/7/2022 đến nay, có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Trần Văn S - Sinh năm 1997; địa chỉ: thôn Hợp Long 2, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa, vắng mặt.

- Người tham gia tố tụng khác: Người làm chứng:

1/ Anh Mai Quang H - Sinh năm 1988; địa chỉ: Phố Phát Diệm, thị trấn P, huyện K, tỉnh Ninh Bình, vắng mặt.

2/ Anh Ngô Văn T - Sinh năm: 1989; địa chỉ: Tiểu khu Ba Đình, thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa, vắng mặt.

3/ Chị Nguyễn Thị Vân Nh - Sinh năm 1988; địa chỉ: Phố Phát Diệm, thị trấn P, huyện K, tỉnh Ninh Bình, vắng mặt.

4/ Anh Trần Trường S - Sinh năm 1987; địa chỉ: Xóm 4, xã Th, huyện K, tỉnh Ninh Bình, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 0 giờ 15 phút ngày 25/7/2022, Công an huyện N nhận được tin báo về việc tại khu vực nhà hàng Hải Nam Centre, thuộc tiểu khu H, thị trấn N, huyện N xảy ra vụ xô xát, đánh nhau giữa một số nam thanh niên đang hát karaoke tại tầng 3. Hậu quả, anh Hoàng Văn D, sinh năm 1987 bị thương tích phải đi điều trị tại Bệnh viện đa khoa huyện N.

Quá trình xác minh tin báo, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã triệu tập, làm việc với Nguyễn Văn L, là người liên quan đến vụ việc cố ý gây thương tích. Khi Cơ quan CSĐT tiến hành kiểm tra chiếc điện thoại di động Samsung Galaxy A71 màu xanh, gắn sim số 0812.255.522 của L thì phát hiện trong điện thoại có một số tin nhắn có nội dung liên quan đến việc ghi nhận số lô, số đề. Lúc 07 giờ 00 phút ngày 25/7/2022, Nguyễn Văn L đã tự thú, khai nhận hành vi đánh bạc dưới hình thức ghi số lô, số đề cho một số người để hưởng lợi nhuận, đồng thời tự nguyện giao nộp chiếc điện thoại Samsung màu xanh, gắn sim số 0812.255.522 và 0984.944.533.

Kiểm tra nhật ký điện thoại hiển thị trong chiếc điện thoại Samsung Galaxy A71 màu xanh, kết quả như sau:

- Tại mục hộp thư đến tin nhắn SMS của sim số 0812.255.522 (nhận từ số điện thoại 0981.000.936 của Mai Văn B) có các tin nhắn ghi nhận số lô, số đề. Cụ thể, ngày 21/7/2022 “Lô 282.363 x 600đ. 494.565 x 400đ. 81.82.83.85.86.88 x 200đ. Đề 08.18.28.48.68.82.83.85.86.88 x 300k. Đầu 8 x 200k đít 8 x 100k”; ngày 23/7/2022 “Đề 282.363 x 800k. 030.565 x 600k. 373.383.585.2.88.81 x 100k. Lô 030.242.282.363.494.565 x 500đ”..

- Tại mục hộp thư tin nhắn zalo của tài khoản zalo mang tên “Nvx” đăng ký bằng số điện thoại 0932.480.663 phát hiện tin nhắn có nội dung ghi lô, đề được gửi từ tài khoản zalo mang tên “Em S”, tài khoản zalo “Em S” là của Trần Văn S (ở thôn Hợp Long 2, xã N), cụ thể ngày 24/6/2022 “090/100k. Lô 090/500đ. Xiên 36.09.90/200k” và các tin nhắn chuyển bảng lô đề đến tài khoản zalo có tên “Bình An”.

Thông qua lời khai của Nguyễn Văn L cũng như khai thác nội dung tin nhắn trên điện thoại của L, Cơ quan CSĐT Công an huyện N đã triệu tập Mai Văn B và Trần Văn S để làm việc. Lúc 16 giờ 00 phút ngày 26/7/2022, B đã đầu thú khai nhận hành vi ghi số lô, số đề với L nhưng sau khi thực hiện xong hành vi đánh bạc, B đã xóa toàn bộ tin nhắn, đồng thời B tự nguyện giao nộp chiếc điện thoại Iphone 7 Plus màu trắng, gắn sim số 0981.000.936. Cơ quan CSĐT đã tiến hành kiểm tra nhật ký điện thoại Iphone 7 Plus màu trắng của B, kết quả thể hiện nhật ký cuộc gọi trống; nhật ký tin nhắn trống.

Đối với Trần Văn S đã khai nhận hành vi đánh bạc với Nguyễn Văn L vào ngày 24/6/2022 và tự nguyện giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu iphone, màu trắng, số imei: 013733002670256, gắn số sim 0965.854.818, S sử dụng để ghi số lô, số đề.

Sau khi tạm giữ điện thoại di động của các đối tượng có liên quan đến hành vi đánh bạc dưới hình thức ghi số lô, số đề, ngày 21 và 23/7/2022. Ngày 02/8/2022, Cơ quan CSĐT Công an huyện N đã có Quyết định số 76/QĐ-CSĐT, trưng cầu Phòng KTHS Công an tỉnh Thanh Hóa phục hồi, trích xuất dữ liệu các tin nhắn có nội dung liên quan đến hành vi đánh bạc dưới hình thức số lô, số đề từ ngày 01/7/2022 đến ngày 25/7/2022, lưu giữ trong 03 chiếc điện thoại di động của Nguyễn Văn L, Mai Văn B và Trần Văn S sử dụng.

Tại Bản kết luận giám định số 3006/KL-KTS của Phòng KTHS Công an tỉnh Thanh Hóa, kết luận như sau:

- Trong khoảng thời gian từ ngày 15/7/2022 đến ngày 25/7/2022, tìm thấy 47 tin nhắn SMS, 21 ảnh chụp màn hình thể hiện tin nhắn zalo (có phụ lục kèm theo) và không tìm thấy dữ liệu tin nhắn đã xóa trong, chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung, màu xanh, gắn số máy: 0812.225.522 và 0984.944.533, số imei1: 353408114048695 và số iemi2: 353409114048693.

- Trong khoảng thời gian từ ngày 15/7/2022 đến ngày 25/7/2022, tìm thấy 11 tin nhắn sms, và không tìm thấy dữ liệu tin nhắn đã xóa trong chiếc điện thoại, di động nhãn hiệu Iphone 7Plus, màu trắng, gắn sim số 0981.000.936, số imei: 359128074453412.

- Trong khoảng thời gian từ ngày 15/7/2022 đến ngày 25/7/2022, tìm thấy 18 tin nhắn zalo (bao gồm 07 tin nhắn phục hồi được) trong, chiếc điện thoại di động nhãn hiệu iphone, màu trắng, số imei: 013733002670256, gắn số sim 0965.854.818 (BL 106-126).

Đối chiếu các tin nhắn ghi số lô, số đề được Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa phục hồi, trích xuất trên điện thoại của L, B và S được thể hiện tại các phụ lục kèm theo, thấy phù hợp với các tin nhắn số lô, số đề Cơ quan CSĐT Công an huyện N đã kiểm tra trên điện thoại của L.

Kết quả điều tra xác định: Nguyễn Văn L thuê cửa hàng tại tiểu khu Ba Đình để kinh doanh, mua bán chim cảnh và lồng nuôi chim. Do muốn kiếm thêm thu nhập nên trong các ngày 24/6/2022; 21 và 23/7/2022 L đã sử dụng số điện thoại 0812.255.522 và tài khoản zalo “Nvx” để đánh bạc trái phép được thua bằng tiền dưới hình thức ghi số lô, số đề cho Mai Văn B, sinh năm 1990, ở thôn Nội 1, xã N, huyện N (số điện thoại 0981.000.936) và Trần Văn S, sinh năm 1997, ở thôn Hợp Long 2, xã N, huyện N (tài khoản zalo “Em S”) sau đó L chuyển cho một người quen qua mạng xã hội sử dụng tài khoản zalo “Bình An”. Hình thức đánh bạc như sau:

Đánh bạc dưới hình thức ghi số đề là ghi số có 02 chữ số từ 00 đến 99, trong dãy số tự nhiên và căn cứ vào hai số cuối của giải đặc biệt Xổ số kiến thiết miền Bắc để tính được thua. Nếu số người ghi trùng với hai số cuối của giải đặc biệt thì người chơi thắng và ngược lại. Số tiền trúng số đề gấp 70 lần số tiền bỏ ra ghi số đề;

Đánh bạc dưới hình thức ghi số lô là ghi số có 02 chữ số từ 00 đến 99 trong dãy số tự nhiên, căn cứ vào hai con số cuối của 27 giải xổ số kiến thiết miền Bắc quay thưởng vào 18h15' hàng ngày để tính được thua. Nếu số của người chơi số lô ghi mà trùng với hai số cuối của một trong 27 giải thưởng trong ngày thì người chơi thắng, còn không trùng thì thua và mất số tiền đã ghi. Nếu có nhiều giải trùng, thì người chơi được nhận thưởng tương ứng với số giải trùng. Số lô được tính theo điểm, mỗi điểm lô, L nhận của người chơi là 22.500đ, nếu trúng được 01 điểm lô thì người chơi được nhận 80.000đ.

Đánh bạc dưới hình thức ghi lô xiên hai, xiên ba: là ghi 02 hoặc 03 số lô, nếu có hai hoặc ba số lô trùng nhau thì người chơi sẽ được, còn ít nhất một trong hai hoặc ba số không trùng nhau thì người chơi thua. Người chơi lô xiên sẽ trả một số tiền cụ thể. Tỷ lệ được, thua là 1/10 lần đối với lô xiên hai; 1/40 lần đối với lô xiên ba.

Đánh bạc dưới hình thức ghi số ba càng là ghi số có 03 chữ số từ 000 đến 999 trong dãy số tự nhiên và căn cứ vào ba số cuối của giải đặc biệt Xổ số kiến thiết miền Bắc để tính được thua. Ghi số lô ba càng thì người chơi phải trả số tiền cụ thể. Nếu số ghi ba càng của người chơi trùng với ba số cuối của giải đặc biệt thì người chơi sẽ thắng và được hưởng 400 lần tiền bỏ ra ghi (BL 306-308).

Để khuyến khích người chơi, L chỉ nhận 80% trên tổng số tiền của những người ghi số lô, số đề.

Cụ thể:

1/ Ngày 24/6/2022, Nguyễn Văn L đánh bạc với Trần Văn S dưới hình thức ghi số lô, số đề gồm: mỗi số đề 09, 90 ghi 100.000đ; mỗi số lô 09, 90 ghi 50 điểm; xiên ba 36.09.90 ghi 200.000đ. Tổng số tiền 2.650.000đ. Căn cứ kết quả xổ số kiến thiết miền Bắc mở thưởng ngày 24/6/2022, S không trúng thưởng. Trần Văn S chưa thanh toán số tiền này cho Nguyễn Văn L.

2/ Ngày 21/7/2022, Nguyễn Văn L đánh bạc với Mai Văn B dưới hình thức ghi các số lô, số đề từ Mai Văn B thông qua tin nhắn sim SMS (số điện thoại 0981.000.936), cụ thể gồm: mỗi số lô 28, 82, 36, 63 ghi 600 điểm; mỗi số lô 49, 94, 56, 65 ghi 400 điểm; mỗi số lô 81, 82, 83, 85, 86, 88 ghi 200 điểm; mỗi số đề 08, 18, 28, 48, 68, 82, 83, 85, 86, 88 ghi 300.000đ; mỗi số đề 80, 81, 82, 83, 84, 85, 86, 87, 88, 89 ghi 200.000đ; mỗi số đề 08, 18, 28, 38, 48, 58, 68, 78, 88, 98 ghi 100.000đ. L nhắn tin lại “OK” nghĩa là đồng ý nhận (bán) số lô, số đề cho B. Như vậy, ngày 21/7/2022, L nhận ghi của B 5200 điểm lô với giá 22.500đ/điểm, thành tiền là 117.000.000đ; nhận ghi 30 số đề 6.000.000đ. Tổng số tiền B mua số lô, số đề với L là 123.000.000đ. Căn cứ kết quả xổ số kiến thiết miền Bắc mở thưởng ngày 21/7/2022, B trúng thưởng như sau: số lô 36 trúng 600 điểm, số lô 65 trúng 400 điểm, mỗi số lô 83, 85, 86 trúng 200 điểm. Tổng trúng 1600 điểm lô, bằng số tiền 128.000.000đ. Như vậy, tổng số tiền đánh bạc ngày 21/7/2022 của L và B là 251.000.000đ. Số tiền đánh bạc B chưa thanh toán cho L và L cũng chưa thanh toán số tiền trúng thưởng cho B.

3/ Ngày 23/7/2022, Nguyễn Văn L đánh bạc dưới hình thức ghi số lô, số đề với Mai Văn B thông qua tin nhắn sim SMS (số điện thoại 0981.000.936), cụ thể gồm: mỗi số đề 28, 82, 36, 63 ghi 800.000đ; mỗi số đề 03, 30, 56, 65 ghi 600.000đ; mỗi số đề 37, 73, 38, 83, 58, 85, 22, 88, 81 ghi 100.000đ; mỗi số lô 03, 30, 24, 42, 28, 82, 36, 63, 49, 94, 56, 65 ghi 500 điểm. Tổng số tiền B mua số lô, số đề với L là 141.500.000đ. Căn cứ kết quả xổ số kiến thiết miền Bắc mở thưởng ngày 23/7/2022, B trúng thưởng như sau: mỗi số lô 03, 42 trúng 500 điểm, Tổng trúng 1000 điểm, bằng số tiền 80.000.000đ. Như vậy, tổng số tiền đánh bạc ngày 23/7/2022 của L và B là 221.500.000đ. Số tiền đánh bạc và trúng thưởng L và B chưa thanh toán cho nhau (BL 185l; 187; 190-192).

Quá trình điều tra Nguyễn Văn L khai nhận: từ tháng 01 năm 2022, L đã ghi số lô, số đề cho một số người không biết tên, tuổi, địa chỉ, sau đó chuyển bảng lô, bảng đề cho Mai Quang H, sinh năm 1988, ở tổ 1, phố P, thị trấn P, huyện K, tỉnh Ninh Bình thông qua tài khoản zalo “Bình An”. Toàn bộ số tiền ghi số lô, số đề và thanh toán thắng thua, L sử dụng số tài khoản của mình là 107872741557 tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam (Vietinbank) để chuyển cho Mai Quang H qua số tài khoản 104873622381 tại Ngân hàng Vietinbank. Trong thời gian từ ngày 01/01/2022 đến ngày 19/7/2022, tổng số tiền L chuyển cho H là 482.026.000đ; Nguyễn Văn L cũng nhiều lần nhận tiền chuyển đến từ tài khoản 104873622381, tổng số tiền là 644.028.000đ. Số tiền này L trình bày là tiền đánh bạc, tiền giao dịch mua bán chim cảnh và tiền một số lần vay – trả nợ giữa L và H. Tuy nhiên, quá trình điều tra, H không thừa nhận đánh bạc với L dưới hình thức ghi số lô, số đề và cũng không sử dụng tài khoản zalo “Bình An” mà chỉ sử dụng số điện thoại 0979.345.203 đăng ký tài khoản zalo có tên “Mai Quang H” và số điện thoại 0868.719.262 H dùng để liên lạc với Nguyễn Văn L. H không biết tài khoản zalo “Bình An” là của ai; số tiền H và L chuyển cho nhau qua tài khoản tại ngân hàng là do giữa L và H có mối quan hệ bạn bè từ trước nên H có cho L vay tiền để L đầu tư kinh doanh cửa hàng mua bán chim cảnh, khi nào có tiền thì trả dần cho H và là tiền H trả nợ do đã mua chim cảnh của L. Các giao dịch tiền mua, bán chim cảnh và khi H cho L vay tiền có lần đưa trực tiếp, có lần thông qua chuyển khoản qua số tài khoản trên và không viết giấy vay nợ. Đối với số tài khoản 104873622381 tại Ngân hàng Vietinbank mà L và H chuyển tiền cho nhau là của Trần Trường S, sinh năm 1987, ở xóm 4, xã Th, huyện K, tỉnh Ninh Bình. Từ năm 2021, do S không có nhu cầu sử dụng nên Sh đã cho H và Nguyễn Thị Vân Nh (vợ của H) mượn để thực hiện dịch vụ chuyển tiền nhanh qua tài khoản hoặc rút tiền mặt cho người khác để hưởng lợi nhuận.

Do L không biết tên, tuổi, địa chỉ những người đánh bạc với mình dưới hình thức ghi số lô, số đề là ai. Bảng lô, bảng đề L khai chuyển cho H qua tài khoản zalo “Bình An” nhưng H không thừa nhận tài khoản zalo đó là của H. Cơ quan CSĐT Công an huyện N đã trưng cầu Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa phục hồi, trích xuất các tin nhắn SMS và zalo trên điện thoại của L nhưng không thể hiện có ghi và chuyển các số lô, số đề cho H cũng như với những người khác. Ngoài ra, từ ngày 21/7 đến ngày 24/7/2022, giữa L và H (qua số tài khoản 104873622381) không phát sinh giao dịch chuyển khoản. Vì vậy, không đủ căn cứ để xác định Mai Quang H là người sử dụng zalo “Bình An” để nhận bảng lô, bảng đề do Nguyễn Văn L chuyển đến và số tiền 482.026.000đ mà L đã chuyển cho H qua số tài khoản 104873622381 mang tên Trần Trường S là số tiền đánh bạc dưới hình thức ghi số lô, số đề giữa L và H.

Quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Văn L và Mai Văn Bh đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi của mình. Lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với biên bản tự thú của Nguyễn Văn L, biên bản đầu thú của Mai Văn B, phù hợp với biên bản kiểm tra điện thoại của L và kết quả giám định cũng như các tài liệu khác thể hiện trong hồ sơ. Ngoài ra, Nguyễn Văn L có ông ngoại là người có công với cách mạng.

Vật chứng đã thu giữ đang được bảo quản chờ xử lý gồm:

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu xanh, gắn số máy: 0812.225.522 và 0984.944.533, số imei1: 353408114048695 và số iemi2: 353409114048693 của Nguyễn Văn L;

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7Plus, màu trắng, gắn sim số 0981.000.936, số imei: 359128074453412 của Mai Văn B;

- 01 (một) điện thoại di nhãn hiệu iphone, màu trắng, số imei: 013733002670256, gắn số sim 0965.854.818 của Trần Văn S.

Từ những hành vi trên, Cáo trạng số 41/CT-VKSNS-TA ngày 02/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố Nguyễn Văn L và Mai Văn B về tội “Đánh bạc” theo điểm b khoản 2 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố, đồng thời đề nghị HĐXX: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn L, Mai Văn B phạm tội “Đánh bạc” đề nghị HĐXX:

Áp dụng: Điều 17; điểm r, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58 và điểm b khoản 2 Điều 321 BLHS đối với Nguyễn Văn L. Áp dụng: Điều 17; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58 và điểm b khoản 2 Điều 321 BLHS đối với Mai Văn B.

Xử phạt: Nguyễn Văn L từ 39 đến 42 tháng tù; Mai Văn B từ 36 đến 39 tháng tù, hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam là ngày 27/7/2022. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm b khoản 2 Điều 106 BLTTHS: Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu xanh, gắn số máy: 0812.225.522 và 0984.944.533, số imeil 1: 3534081140048695 và số iemi 2: 353409114048693 của Nguyễn Văn L; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7Plus, màu trắng, gắn sim số 0981.000.936, số imei: 359128074453412 của Mai Văn B; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu trắng, số imei: 013733002670256, gắn số sim 0965.854.818 của Trần Văn S.

Truy thu của bị cáo L số tiền là 208.000.000đ; bị cáo B số tiền 264.500.000đ; của anh Trần Văn S số tiền là 2.650.000đ là số tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm.

Các bị cáo không có ý kiến tranh luận gì.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của KSV, của bị cáo và những người tham gia tố tụng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

HĐXX nhận thấy: Lời khai của các bị cáo Nguyễn Văn L và Mai Văn B tại phiên tòa là phù hợp với lời khai báo tại CQĐT, lời khai, lời trình bày của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và những người làm chứng. Như vậy có đủ cơ sở khẳng định: Với mục đích kiếm thêm thu nhập bất chính cho bản thân, từ đầu tháng 01/2022, Nguyễn Văn L đã tìm hiểu cách thức đánh bạc trái phép được thua bằng tiền dưới hình thức ghi số lô, số đề cho những người có nhu cầu đánh số lô, số đề để thu lợi nhuận. Đến ngày 21/7/2022, Mai Văn B nhắn tin ghi số lô, số đề với Nguyễn Văn L số tiền là 251.000.000đ, bao gồm: Số tiền ghi số lô, số đề là 123.000.000đ và 128.000.000đ tiền trúng thưởng; ngày 23/7/2022, Bách nhắn tin ghi số lô, số đề với Nguyễn Văn L, số tiền là 221.500.000đ, bao gồm: Số tiền ghi lô, đề là 141.500.000đ và 80.000.000đ tiền trúng thưởng. Như vậy, trong hai ngày 21 và 23/7/2022, Nguyễn Văn L đã đánh bạc với Mai Văn B với tổng số tiền là 472.500.000đ nhưng cả hai chưa thanh toán cho nhau.

Đối với người sử dụng tài khoản zalo “Bình An” nhận bảng số lô, số đề của Nguyễn Văn L chuyển đến, Cơ quan CSĐT Công an huyện N tách hồ sơ tiếp tục xác minh để xử lý theo quy định.

Đối với Trần Văn S, ngày 24/6/2022 có hành vi đánh bạc với Nguyễn Văn L, nhưng do số tiền đánh bạc dưới 5.000.000đ, bản thân Trần Văn S chưa bị xử phạt hành chính hoặc bị kết án về hành vi đánh bạc và tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc, chưa được xóa án tích theo quy định tại các Điều 321, Điều 322 BLHS nên hành vi của S không cấu thành tội phạm. Cơ quan CSĐT đã chuyển tài liệu cho Công an huyện N để xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền đối với S là đúng quy định của pháp luật.

Tại bản cáo trạng số 41/CT-VKSNS-TA ngày 02/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố Nguyễn Văn L và Mai Văn B về tội “Đánh bạc” theo điểm b khoản 2 Điều 321 BLHS là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét về tính chất, mức độ và hậu quả do hành vi phạm tội của các bị cáo gây nên, HĐXX thấy rằng: Hành vi đánh bạc dưới hình thức ghi số lô, số đề, được thua bằng tiền của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Đây là một tệ nạn xã hội đang diễn ra nhiều trong xã hội hiện nay, đó cũng là nguyên nhân dẫn đến và gây nên nhiều hành vi phạm tội khác.

Hành vi phạm tội của các bị cáo Nguyễn Văn L, Mai Văn B và các đối tượng liên quan trong vụ án đã gây nên bất bình trong xã hội, gây nhiều xáo trộn trong đời sống sinh hoạt của cộng đồng dân cư. Do vậy, cần có đường lối xử lý nghiêm minh theo quy định của BLHS nhằm cải tạo, giáo dục các bị cáo, đồng thời bảo đảm phòng ngừa chung, nhằm góp phần ngăn chặn các tệ nạn xã hội khác trong xã hội đang có chiều hướng gia tăng, đặc biệt là tệ nạn đánh bạc dưới hình thức chơi lô, đề.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (TNHS):

- Tình tiết tăng nặng TNHS: Các bị cáo Nguyễn Văn L và Mai Văn B khi thực hiện hành vi phạm tội có 01 tình tiết tăng nặng TNHS: Phạm tội 02 lần trở lên được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS.

- Tình tiết giảm nhẹ TNHS: Các bị cáo khi được cơ quan CSĐT Công an huyện Nga Sơn triệu tập đến làm việc, bị cáo L đã tự thú, bị cáo B đã đầu thú về hành vi đánh bạc của mình, tự nguyện giao nộp phương tiện sử dụng vào việc thực hiện hành vi đánh bạc, quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay thành khẩn khai báo toàn bộ những hành vi phạm tội của mình, bị cáo L có ông ngoại là người có công với cách mạng. Do đó, bị cáo L được hưởng các tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại điểm s, r khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS; còn bị cáo B được hưởng các tình tiết giảm nhẹ TNHS được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS.

Về hình phạt: Từ những nhận định trên, HĐXX cần phân hóa vai trò của các bị cáo trong vụ án và lên cho mỗi bị cáo một mức hình phạt phù hợp tương xứng với hành vi phạm tội và nhân thân của các bị cáo. Trong vụ án này, bị cáo Nguyễn Văn L là người khởi xướng, trao đổi thông tin cho bị cáo Mai Văn B biết việc mình nhận ghi số lô, số đề; bị cáo Mai Văn B là đồng phạm với vai trò người thực hành tích cực. Do đó, cần lên mức hình phạt đối với bị cáo L cao hơn bị cáo B và cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có đủ điều kiện cải tạo, giáo dục các bị cáo thành công dân chấp hành pháp luật tốt.

Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo làm nghề lao động tự do, thu nhập không ổn định do đó, HĐXX không áp dụng khoản 3 Điều 321 BLHS đối với các bị cáo.

Về số tiền truy thu: HĐXX xem xét cần truy thu số tiền dùng đánh bạc trái phép và thu lợi bất chính của các bị cáo, của những người tham gia đánh bạc khác trong vụ án để nộp ngân sách nhà nước. Các bị cáo và những người tham gia đánh bạc khác chưa thanh toán cho nhau, cụ thể:

Ngày 24/6/2022, bị cáo L nhận ghi số lô, số đề cho Trần Văn S số tiền là 2.650.000đ, Trần Văn S không trúng thưởng và chưa thanh toán cho bị cáo L, nên truy thu đối với Trần Văn S số tiền là 2.650.000đ.

Ngày 21/7/2022, bị cáo L nhận ghi số lô, số đề cho bị cáo B số tiền là 123.000.000đ, bị cáo B trúng thưởng 128.000.000đ. Các bị cáo L và B chưa thanh toán cho nhau. Do đó truy thu đối với bị cáo B là 123.000.000đ; truy thu đối với bị cáo L là 128.000.000đ.

Ngày 23/7/2022, bị cáo L nhận ghi số lô, số đề cho bị cáo B số tiền là 141.500.000đ, bị cáo B trúng thưởng 80.000.000đ. Các bị cáo L và B chưa thanh toán cho nhau. Do đó truy thu đối với bị cáo B số tiền 141.500.000đ; truy thu đối với bị cáo L là 80.000.000đ.

Như vậy, truy thu đối với bị cáo L tổng số tiền là 208.000.000đ (Hai trăm lẻ tám triệu đồng). Truy thu đối với bị cáo B số tiền là 264.500.000đ (Hai trăm sáu mươi tư triệu năm trăm nghìn đồng).

Về vật chứng: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu xanh, của Nguyễn Văn L; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7Plus, màu trắng, của Mai Văn B; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu trắng của Trần Văn S, đây là những phương tiện phạm tội và còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

Tại phiên tòa HĐXX nhận thấy: Bản cáo trạng, quyết định truy tố và lời luận tội của KSV đối với các bị cáo là phù hợp, đúng người đúng tội, đúng pháp luật. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và những người làm chứng trong vụ án, lời khai, lời trình bày trung thực; đối với các bị cáo tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa khai báo thành khẩn về hành vi phạm tội của bản thân, lời nói sau cùng của các bị cáo: Xin HĐXX cho các bị cáo mức án thấp nhất để chấp hành và cải tạo sớm trở về với gia đình và cộng đồng.

HĐXX nhận thấy: Trong hồ sơ vụ án, tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đều tuân thủ theo quy định của BLTTHS tại Điều 37 nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Điều tra viên và Điều 42 nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Kiểm sát viên.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 321; Điều 17; Điều 38; Điều 58; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS đối với các bị cáo Nguyễn Văn L và Mai Văn B (riêng bị cáo L được áp dụng thêm điểm r khoản 1 Điều 51 BLHS).

- Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Văn L và Mai Văn B phạm tội: “Đánh bạc”.

- Xử phạt: 1/ Bị cáo Nguyễn Văn L 39 (Ba mươi chín) tháng tù. Hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 27/7/2022);

2/ Bị cáo Mai Văn B 36 (Ba mươi sáu) tháng tù. Hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 27/7/2022).

- Truy thu nộp ngân sách nhà nước số tiền cụ thể như sau: Truy thu đối với bị cáo L tổng số tiền là 208.000.000đ (Hai trăm lẻ tám triệu đồng); truy thu đối với bị cáo B số tiền là 264.500.000đ (Hai trăm sáu mươi tư triệu năm trăm nghìn đồng); đối với Trần Văn S số tiền 2.650.000đ(Hai triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng).

- Về vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, b khoản 2 Điều 106 BLHS: Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu xanh, gắn số máy: 0812.225.522 và 0984.944.533, số imeil 1: 3534081140048695 và số iemi 2: 353409114048693 của Nguyễn Văn L; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7Plus, màu trắng, gắn sim số 0981.000.936, số imei: 359128074453412 của Mai Văn B; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu trắng, số imei: 013733002670256, gắn số sim 0965.854.818 của Trần Văn S. (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 03/11/2022 giữa Công an huyện N với Chi cục thi hành án dân sự huyện N, tỉnh Thanh Hóa).

- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS; khoản 1 Điều 21; ®iÓm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Các bị cáo Nguyễn Văn L và Mai Văn B, mỗi bị cáo phải nộp án phí HSST là 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).

Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 BLTTHS: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; anh Trần Văn S có quyền kháng cáo bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thêi h¹n 15 ngµy kÓ tõ ngµy nhËn ® îc b¶n ¸n hoÆc niªm yÕt b¶n ¸n.

Cỡ chữ