vanban.org

Bản án 39/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang Tuyên án 26/05/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Quách Nh (tên gọi khác: Lùn) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 BLHS và điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS. Tịch thu tiêu hủy đối với số mà túy hoàn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì (có dòng chữ Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang, bên ngoài ghi “Niêm phong mẫu vật, vụ số 619/2021, ngày 11/6/… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Quách Nh (tên gọi khác: Lùn) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Quách Nh (tên gọi khác: Lùn) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 39/2022/HS - ST
Ngày 26/5/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Thị Cẩm Lình.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nhâm Đức Hùng và ông Nguyễn Thành Thái.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lữ Cẩm Nhung, Thư ký Toà án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Vương - Kiểm sát viên.

Hôm nay, ngày 26 tháng 5 năm 2022 tại Toà án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 16/2022/TLST- HS ngày 02 tháng 3 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2022/QĐXXST - HS ngày 29 tháng 4 năm 2022 đối với bị cáo:

Quách Nh (tên gọi khác: Lùn), sinh ngày 16/3/1993, tại Rạch Giá - Kiên Giang. Nơi cư trú: Số nhà 678B LQK, khu phố 5, phường AH, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang; Số chứng minh nhân dân: 371576482, cấp ngày 07/3/2009 tại Công an tỉnh Kiên Giang; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hoá: 6/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Quách Văn H, sinh năm: 1965 và bà Võ Thị Ngọc Y, sinh năm: 1970; Anh em ruột có 03 người, lớn nhất sinh năm 1991 và nhỏ nhất sinh năm 2000; Vợ: Nguyễn Thị Kiều Ph, sinh năm 1991; Con ruột Quách Thiên K, sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 07/6/2021 cho đến ngày 12/6/2021 được tại ngoại (Theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 11/L-CSMT ngày 11/6/2021).

(Bị cáo có mặt tại phiên tòa)

* Người làm chứng: Trương Ngọc D, sinh năm: 1999. Địa chỉ: Số 470 NCT, phường RS, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Quách Nh là đối tượng nghiện ma túy. Vào khoảng 12 giờ, ngày 07/6/2021, Quách Nh dùng điện thoại nhãn hiệu Nokia gọi cho một người tên A (chưa xác định họ tên, địa chỉ, A là bạn ngoài xã hội của Nh) để hỏi mua ma túy với số tiền là 750.000 đồng thì A đồng ý bán. Cả hai hẹn nhau thực hiện việc mua bán ma túy tại kênh 6, đường NTT, phường RS, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang. Sau đó, Nh đi xe ôm đến điểm hẹn, tại đây A bán cho Nh 03 bịch ma túy và Nh trả cho A 750.000 đồng.

Khi mua được ma túy, Nh đi về nhà tại đường LQK, khu phố 5, phường AH, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang rồi lấy 01 bịch ma túy sử dụng, 02 bịch ma túy còn lại Nh để 01 bịch trong túi áo trước bên trái và 01 bịch đựng trong bao thuốc lá nhãn hiệu Hero để trong túi quần jean phía trước bên phải.

Sau khi sử dụng ma túy xong, Nh tiếp tục đi xe ôm đến quán càfe AN thuộc ấp Sua Đũa, xã Vĩnh Hòa Hiệp, huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang để uống càfe. Trong lúc uống càfe tại đây thì bị Phòng cảnh sát điều tra tội phạm ma túy Công an tỉnh Kiên Giang tiến hành kiểm tra bắt quả tang Nh về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Công an tiến hành thu giữ trong túi áo phía trước bên trái của Nh 01 bịch nilon được hàn kín, kích thước 2,7cm x 2,7cm bên trong có chứa nhiều hạt tinh thể trong suốt không đồng nhất và trong túi quần jean phía trước bên phải của Nh có 01 bao thuốc Hero bên trong có 01 bịch nilon được hàn kín, kích thước 1,5cm x 3,2cm bên trong có chứa nhiều hạt tinh thể trong suốt không đồng nhất. Tất cả đã được niêm phong theo quy định; 01 điện thọai di động nhãn hiệu Nokia, màu đỏ đen, loại bàn phím, số seri 1 355776103466039, số seri 2 35577610396608 đã qua sử dụng và 460.000 đồng Việt Nam.

Sau khi bắt quả tang Nh về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, lực lượng chức năng đã đưa Nh về Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Kiên Giang để lấy lời khai. Tại đây Nh thừa nhận hành vi phạm tội của mình.

Tại kết luận giám định số 619/KL-KTHS ngày 11/6/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang kết luận: Nhiều hạt tinh thể trong suốt không đồng nhất chứa trong 02 bịch nilon được niêm phong gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 0,7425gram (Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục II, STT 323, Nghị định số 73/2018/NĐ-CP, ngày 15/5/2018 của Chính phủ).

Vật chứng thu giữ:

- 01 phong bì màu trắng (chứa ma túy sau giám định) có dòng chữ Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang, bên ngoài ghi “Niêm phong mẫu vật, vụ số 619/2021, ngày 11/6/2021, người chứng kiến Danh Phát, giám định viên Lê Đức Huy”, có đóng dấu mộc đỏ niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Kiên Giang.

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đỏ đen, loại bàn phím, số seri 1 355776103466039, số seri 2 35577610396608 đã qua sử dụng.

Hiện các vật chứng đang được giữ tại kho vật chứng của Công an huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang. Đối với số tiền 460.000 đồng Việt Nam của Nh, Công an đã thu giữ trong quá trình điều tra đã được trả lại do không liên quan đến vụ án.

Tại Cáo trạng số 18/CT-VKS- CT ngày 02/3/2022 Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang truy tố Quách Nh về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

* Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát kết luận: Bị cáo Quách Nh (tên gọi khác: Lùn) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nh từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.

Về vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 BLHS và điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS.

Tịch thu tiêu hủy đối với số mà túy hoàn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì (có dòng chữ Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang, bên ngoài ghi “Niêm phong mẫu vật, vụ số 619/2021, ngày 11/6/2021, người chứng kiến Danh Phát, giám định viên Lê Đức Huy”, có đóng dấu mộc đỏ niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Kiên Giang).

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đỏ đen, loại bàn phím, số seri 1 355776103466039, số seri 2 35577610396608 đã qua sử dụng.

Theo Quyết định chuyển giao nhận vật chứng số 13/QĐ-VKSCT ngày 02/3/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang.

- Bị cáo Quách Nh: Thừa nhận bản thân thực hiện hành vi như Cáo trạng đã nêu và kết luận của Kiểm sát viên tại phiên tòa.

- Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đã biết lỗi, rất hối hận về hành vi của bản thân gây ra, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận dịnh như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Châu Thành, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo Nh khai nhận đã thực hiện hành vi như Cáo trạng đã nêu và lời khai của bị cáo phù hợp với các chứng cứ khác. Từ đó, có đủ cơ sở để xác định: Vào khoảng 12 giờ ngày 07/6/2021, để có ma túy sử dụng, bị cáo Nh đã mua ma túy của 01 người tên A (không xác định được thân nhân lai lịch) 03 bịch ma túy với số tiền là 750.000 đồng tại kênh 6, đường Nguyễn Thiện Thuật, phường Rạch Sỏi, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang. Sau khi mua, bị cáo sử dụng hết 01 bịch, 02 bịch ma túy còn lại bị cáo cất giấu 01 bịch trong túi áo và 01 bịch trong túi quần rồi đi đến quán cà phê AN thuộc ấp Sua Đũa, xã Vĩnh Hòa Hiệp, huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang. Trong lúc bị cáo Nh uống cà phê thì bị lực lượng chức năng bắt quả tang đang tàng trữ ma túy, loại Methamphetamine. Theo Kết luận giám định số 619/KL-KTHS ngày 11/6/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang kết luận: Khối lượng mẫu gửi giám định là 0,7425gram là chất ma túy, loại Methamphetamine (Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục II, STT 323, Nghị định số 73/2018/NĐ-CP, ngày 15/5/2018 của Chính phủ).

Hành vi của bị cáo Nh là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý đặc biệt của Nhà nước đồi với ma túy và các chất gây nghiện khác; khi thực hiện hành vi bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và nhận thức rõ ma túy là chất quản lý đặc biệt nhưng bị cáo đã tàng trữ trái phép là phạm tội với lỗi cố ý, mục đích tàng trữ của bị cáo là để sử dụng không nhằm sử dụng vào các mục đích nào khác, loại ma túy bị cáo tàng trữ là chất Methamphetamine có khối lượng là 0,7425gram. Do đó, Viện kiểm sát truy tố và kết luận bị cáo Nh phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.

Bị cáo biết rõ tác hại của ma túy cũng như hậu quả và những hệ lụy của việc sử dụng chất ma túy để lại đối với sức khỏe, kinh tế của bản thân người nghiện, gia đình và xã hội. Ma túy còn là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm, hành vi vi phạm pháp luật khác, làm mất an ninh trật tự xã hội và làm bất bình trong nhân dân. Do đó, cần xử phạt bị cáo thật nghiêm để có thời gian cải tạo bị cáo. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và bị cáo có nhân thân tốt nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Qua phân tích thấy rằng, cần áp dụng Điều 38 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo bằng hình phạt tù có thời hạn nhằm cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội và để bị cáo chấp hành tại cơ sở giam giữ trong một thời hạn nhất định là phù hợp với hành vi, tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo.

Xét đề nghị của Viện kiểm sát về tội danh và khung hình phạt cũng như việc áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo là có căn cứ nên HĐXX ghi nhận để xem xét.

Về vật chứng: Đối với khối lượng ma túy được hoàn trả sau giám định là vật Nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đỏ đen, loại bàn phím, số seri 1 355776103466039, số seri 2 35577610396608 đã qua sử dụng nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước theo điểm a, c khoản 1 Điều 47 BLHS và điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nh phải chịu án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Tuyên bố: Bị cáo Quách Nh (tên gọi khác: Lùn) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Quách Nh (tên gọi khác: Lùn) 01 (Một) năm tù. Thời hạn bị cáo chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án nhưng được khấu trừ vào thời gian bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 07/6/2021 đến ngày 12/6/2021.

- Về vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 BLHS và điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS. Tịch thu tiêu hủy đối với số mà túy hoàn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì (có dòng chữ Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang, bên ngoài ghi “Niêm phong mẫu vật, vụ số 619/2021, ngày 11/6/2021, người chứng kiến Danh Phát, giám định viên Lê Đức Huy”, có đóng dấu mộc đỏ niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Kiên Giang); Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đỏ đen, loại bàn phím, số seri 1 355776103466039, số seri 2 35577610396608 đã qua sử dụng. Theo Quyết định chuyển giao nhận vật chứng số 13/QĐ-VKSCT ngày 02/3/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang.

- Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Quách Nh chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

- Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 18/5/2022).

Cỡ chữ