- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hứa Thanh T - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 39/2022/HS-PT Ngày 17-3-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tài.
Các Thẩm phán: Ông Cao Huy Cường;
Ông Lê Quân Vương.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hiền – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Dung - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 11 và 17 tháng 3 năm 2022 t i Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 48/2022/TLPT-HS ngày 27 tháng 01 năm 2022 đối với bị cáo Hứa Thanh T do có kháng cáo của bị cáo và người đ i diện hợp pháp cho bị h i đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 188/2021/HS-ST ngày 25 tháng 11 năm 2021 của Tòa án nhân dân thị xã T tỉnh Bình Dương.
- Bị cáo có kháng cáo: Hứa Thanh T sinh năm 1986 t i tỉnh Cà Mau; địa chỉ thường trú: ấp C, xã K huyện K tỉnh Kiên Giang; địa chỉ t m trú: khu phố Kh phường Kh thị xã T tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: lái xe; trình độ văn hóa (học vấn): lớp 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hứa Hùng H và bà Nguyễn Phương H; có vợ là bà Lê Kim Th và 02 con; tiền án: không tiền sự: không; nhân thân: không; bị cáo t i ngo i; có mặt.
- Người đại diện hợp pháp cho bị hại kháng cáo: ông Phan Văn T (cha bị h i) và bà Nguyễn Thị Y (mẹ bị h i); cùng địa chỉ: số 10/18 khu phố B phường B, thành phố T tỉnh Bình Dương.
Người đại diện theo ủy quyền của ông T và bà Y: ông Phan Văn H, sinh năm 1978; địa chỉ: số 10/18 khu phố B phường B thành phố T tỉnh Bình Dương (theo Hợp đồng ủy quyền ngày 22/02/2021).
Ngoài ra, còn có 01 bị đơn dân sự và 01 người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án không kháng cáo và không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến t i phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hứa Thanh T có giấy phép lái xe ô tô h ng C số 790193039979 do Sở Giao thông vận tải Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 26/02/2019 có giá trị đến ngày 26/02/2024. T là tài xế lái xe cho Công ty TNHH MTV Bao bì P.
Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 23/01/2021 T điều khiển xe ô tô tải biển số 61C-451.32 lưu thông chở giấy cho Công ty TNHH MTV Bao bì P cùng với Nguyễn Hữu N. Khi đến đo n đường ĐT747B thuộc khu phố Kh phường T thị xã T, T điều khiển xe lưu thông không đúng phần đường quy định (lấn trái) dẫn đến đầu xe bên trái của xe ô tô tải va ch m vào đầu xe mô tô biển số 61C2-032.07 do ông Phan Thanh H điều khiển theo hướng ngược l i. Hậu quả làm ông Phan Thanh H tử vong t i hiện trường. Sau tai n n T đến Công an phường Tân P đầu thú và khai nhận việc điều khiển xe 61C-451.32 gây tai n n giao thông làm chết người.
Biên bản khám nghiệm hiện trường vụ tai n n giao thông thể hiện:
Hiện trường xảy ra tai n n giao thông trên đường ĐT747B thuộc khu phố Khá phường Tân P thị xã T tỉnh Bình Dương đo n đường thẳng mặt đường được trải nhựa phẳng có chiều rộng 9 0m. Giữa đường có v ch kẻ đường chia mặt đường ra thành 02 chiều mỗi chiều có bề rộng 4 5m.
Toàn bộ hiện trường lấy mép đường bên phải theo hướng từ ngã ba KJ đến ngã tư chùa T làm chuẩn. Chọn trụ điện số 89 nằm bên hành lang lề phải làm mốc cố định cho toàn bộ hiện trường vụ tai n n.
Xe ô tô biển số 61C2-032.07 sau tai n n có điểm đầu hướng về ngã tư chùa Thầy Thỏ, điểm cuối hướng về ngã ba KJ, đo từ trục trước bánh xe vào mép chuẩn là 2 8m. Đo từ trục bánh sau vào mép chuẩn là 3 3m.
Xe ô tô tải 61C-45.132 có điểm đầu hướng về ngã ba KJ điểm cuối hướng về ngã tư chùa T. Từ vị trí trục bánh trước bên trái đo tới mép chuẩn là 5 2m và đo tới điểm mốc là 10 2m. Từ vị trí trục bánh sau bên trái đo tới mép chuẩn là 4 8m và đo tới bánh sau của vị trí số 1 là 8 1m.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T t m giữ: 01 xe mô tô biển số 61C2-032.07; 01 (một) xe ô tô biển số 61C-45.132.
Kết luận giám định pháp y số 72 ngày 25 tháng 01 năm 2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương kết luận: nguyên nhân tử vong của n n nhân Phan Thanh H là chấn thương sọ não đa chấn thương.
T i Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 123 ngày 30/7/2021 của Hội đồng định giá tài sản thị xã T xác định giá trị bị thiệt h i của xe mô tô biển số 61C2-032.07 là 987.000 đồng.
Xe ô tô biển số 61C-451.32 số khung 18EP6C014215 số máy D6DB6104962 do Công ty TNHH MTV Bao bì P đứng tên chủ sở hữu. Ngày 25/02/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 12 trả l i xe ô tô biển số 61C-451.32 cho ông Lê Văn Kh là đ i diện hợp pháp của Công ty TNHH MTV Bao bì P.
Xe mô tô biển số 61C2-032.07 số khung RLHHA060XWY229626 số máy HA05E0229643 do bà Nguyễn Thị Y (mẹ ruột của ông Phan Thanh H) đứng tên chủ sở hữu. Ngày 25/02/2021 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 13 trả l i xe mô tô biển số 61C2-032.07 cho ông Phan Văn H là người đ i diện theo ủy quyền của gia đình bị h i.
Về trách nhiệm dân sự: Công ty TNHH MTV Bao bì P và bị cáo Hứa Thanh T đã thỏa thuận bồi thường số tiền 150.000.000 đồng bao gồm tiền chi phí mai táng tiền sửa chữa xe mô tô biển số 61C2-032.07 tiền tổn thất về tinh thần cho gia đình bị h i. Đ i diện gia đình bị h i ông Phan Văn H đã làm đơn xin bãi n i cho bị cáo và không yêu cầu gì khác.
T i Bản án hình sự sơ thẩm số: 188/2021/HS-ST ngày 25 tháng 11 năm 2021 của Toà án nhân dân thị xã T, tỉnh Bình Dương đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Hứa Thanh T ph m tội “Vi ph m quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; Điều 38; các điểm b s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;
Xử ph t bị cáo Hứa Thanh T 01 (một) năm tù. Thời h n chấp hành hình ph t tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án.
Bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định.
Ngày 02 tháng 12 năm 2021 ông Phan Văn H (người đ i diện theo ủy quyền của người đ i diện hợp pháp cho bị h i) nộp đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình ph t, xin hưởng án treo cho bị cáo.
Ngày 06 tháng 12 năm 2021 bị cáo Hứa Thanh T nộp đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình ph t và xin hưởng án treo.
Đ i diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương phát biểu ý kiến: đơn kháng cáo của bị cáo và của người đ i diện theo ủy quyền của người đ i diện hợp pháp cho bị h i được làm trong thời h n luật định. Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở xác định hành vi ph m tội của bị cáo. Xét thấy lỗi gây tai n n chính là do bị cáo; tuy nhiên bị cáo có nhân thân tốt chưa có tiền án tiền sự; có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; người đ i diện của bị h i kháng cáo xin giảm nhẹ hình ph t cho bị cáo; gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn: con bị bệnh thiểu năng trí tuệ vợ bi ung thư bị cáo là lao động chính trong gia đình; bị cáo có nơi cư trú rõ ràng. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo; cho bị cáo được hưởng án treo.
Bị cáo không tranh luận trong lời nói sau cùng bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi ph m tội mong Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
NH N Đ NH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng t i phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Đơn kháng cáo của bị cáo và người đ i diện theo ủy quyền của người đ i diện hợp pháp cho bị h i được thực hiện trong thời h n luật định nên đủ điều kiện để Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương giải quyết vụ án theo thủ tục phúc thẩm.
[2] T i phiên tòa phúc thẩm bị cáo Hứa Thanh T đã khai nhận hành vi ph m tội như sau:
Khoảng 11 giờ ngày 23/01/2021 t i đo n đường ĐT747B thuộc khu phố Kh phường Tân P thị xã T tỉnh Bình Dương bị cáo Hứa Thanh T điều khiển xe ô tô biển số 61C-451.32 lấn trái sang đường ngược chiều dẫn đến va ch m với xe mô tô biển số 61C2-032.07 do bị h i Phan Văn H điều khiển làm cho bị h i ngã xuống đường. Hậu quả bị h i Phan Văn H chết do chấn thương sọ não đa chấn thương.
Hành vi của bị cáo T điều khiển xe ô tô lấn làn đường gây tai n n giao thông hậu quả chết người đã vi ph m Điều 9 và Điều 13 của Luật Giao thông đường bộ. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi ph m quy định về tham gia giao thông đường bộ” được quy định t i điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo theo tội danh điều luật nêu trên là đúng quy định của pháp luật.
[3] Sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo và người đ i diện theo ủy quyền của người đ i diện hợp pháp cho bị h i kháng cáo xin giảm nhẹ hình ph t (xin hưởng án treo) với lý do: bị cáo ph m tội lần đầu sau khi ph m tội có thái độ thành khẩn khai báo ăn năn hối cải; bị cáo đã tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả cho bị h i bị cáo là lao động chính có hoàn cảnh gia đình khó khăn vợ bị ung thư sức khỏe yếu; bị cáo có 01 người con sinh năm 2006 bị thiểu năng trí tuệ không có khả năng chăm sóc bản thân do đó bị cáo phải chăm sóc cho vợ và con.
Hội đồng xét xử xét thấy: bị cáo T có giấy phép lái xe h ng C do Sở Giao thông - Vận tải Thành phố Hồ Chí Minh cấp có giá trị đến ngày 26/02/2024. Ngày 23/11/2021 bị cáo điều khiển xe ô tô tải là nguồn nguy hiểm cao độ không quan sát kỹ lưu thông lấn sang làn đường ngược chiều gây tai n n chết người là tội ph m. Tội ph m mà bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội đã xâm ph m đến trật tự an toàn giao thông đường bộ gây thiệt h i tính m ng bị h i. Do đó cần phải xử lý nghiêm tương xứng với tính chất mức độ tội ph m mà bị cáo đã thực hiện nhằm răn đe bị cáo và tuyên truyền giáo dục cho người khác khi tham gia giao thông.
Tòa án cấp sơ thẩm khi quyết định hình ph t đối với bị cáo Tùng đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như: đã bồi thường thiệt h i khắc phục hậu quả; thành khẩn khai báo ăn năn hối cải; người đ i diện hợp pháp của bị h i xin giảm nhẹ hình ph t cho bị cáo; bị cáo ra đầu thú; có ông ngo i là người có công với cách m ng; bị cáo là lao động chính có hoàn cảnh gia đình khó khăn phải nuôi con sinh năm 2006 bị thiểu năng trí tuệ không có khả năng chăm sóc bản thân. Các tình tiết trên được quy định t i điểm b s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo mức án 01 (một) năm tù là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi ph m tội.
T i cấp phúc thẩm, bị cáo không cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ mới. Tuy nhiên, qua diễn biến t i phiên tòa và tài liệu chứng cứ thu thập t i hồ sơ có căn cứ xác định đo n đường xãy ra tai n n rộng 09m, mỗi bên đường rộng 4,5m, giữa đường có v ch kẻ ngắt khoảng chia hai làn đường ngược chiều nhau, bị cáo điều khiển xe lấn sang làn ngược chiều 0,3m thì va ch m với bị h i; đối với bị h i điều khiển xe mô tô từ làn đường xe mô tô sang làn đường ô tô (đoạn giao nhau vạch kẻ chia làn đường ngược chiều) góp phần gây tai n n giao thông. Như vậy, bị h i cũng có phần lỗi khi sử dụng làn đường không đúng. Xét thấy, bị cáo bị xử ph t tù 01 năm; có thân nhân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ có nơi cư trú rõ ràng, hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn, vợ của bị cáo đang bị bệnh đặc biệt nghiêm trọng (ung thư); con (sinh năm 2006) bị thiểu năng trí tuệ không tự chăm sóc bản thân; bị cáo là lao động chính trong gia đình, có khả năng tự cải t o tốt bản thân. Do đó không cần thiết phải bắt bị cáo chấp hành hình ph t tù, áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự chuyển hình ph t tù sang hình ph t tù nhưng cho hưởng án treo, cũng không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội; t o điều kiện cho bị cáo có thời gian chăm sóc vợ và con bị bệnh, đồng thời thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật đối với người ph m tội lần đầu. Kháng cáo của bị cáo và người đ i diện theo ủy quyền của người đ i diện hợp pháp cho bị h i được chấp nhận.
[4] Ý kiến của đ i diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương đề nghị chuyển hình ph t tù sang hình ph t tù nhưng cho hưởng án treo đối với bị cáo là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
[5] Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.
[6] Án phí hình sự phúc thẩm: kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo và người đ i diện theo ủy quyền của người đ i diện hợp pháp cho bị h i không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên
QUYẾT Đ NH:
Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355 và 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hứa Thanh T và ông Phan Văn Hlà người đ i diện theo ủy quyền của người đ i diện hợp pháp cho bị h i. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 188/2021/HS-ST ngày 25 tháng 11 năm 2021 của Toà án nhân dân thị xã Tân Uyên tỉnh Bình Dương.
Tuyên bố bị cáo Hứa Thanh T ph m tội “Vi ph m quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự;
Xử ph t bị cáo Hứa Thanh T 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (hai) năm kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Hứa Thanh T cho Ủy ban nhân dân phường Kh thị xã Ttỉnh Bình Dương giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo Tùng thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.
Trong thời gian thử thách nếu người được hưởng án treo cố ý vi ph m nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình ph t tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Án phí hình sự phúc thẩm:
Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn giảm thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Bị cáo Hứa Thanh T và ông Phan Văn H (người đ i diện theo ủy quyền của người đ i diện hợp pháp cho bị h i) không phải chịu.
3. Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời h n kháng cáo kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương; - Tòa án nhân dân thị xã T (2); - Viện kiểm sát nhân dân thị xã T; - Chi cục Thi hành án dân sự thị xã T; - Phòng PV06 Công an tỉnh Bình Dương; - Công an thị xã T; - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương; - Ủy ban nhân dân xã K; - Người tham gia tố tụng (2); - Tổ Hành chính Tư pháp (2); - Lưu: hồ sơ vụ án LTH, 14. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Văn Tài |