vanban.org

Bản án 39/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Bùi Thị D đề nghị ly hôn với anh Bùi Văn Kh"
  • Tòa quyết gì? 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LẠC SƠN
TỈNH HÒA BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 39/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 27 - 12 – 2022
V/v ly hôn

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC SƠN - TỈNH HOÀ BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Hoa

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Trung Dũng; Ông Bùi Văn Lọt.

- Thư ký ghi phiên toà: Bà Hoàng Thị Khánh Linh - Thư ký toà án nhân dân huyện Lạc Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Sơn tham gia phiên toà: Ông Đinh Thế Tâm - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lạc Sơn- tỉnh Hòa Bình. Tòa án nhân dân huyện Lạc Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 08/2023/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 10 năm 2022 về tranh chấp hôn nhân và gia đình theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2022/QĐXX-ST ngày 12 tháng 12 năm 2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Bùi Thị D, sinh năm 1998. Địa chỉ: xóm Rậm Kẻm, xã Quý Hòa, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình. Vắng mặt theo đơn xin xét xử vắng mặt ngày 12/12/2022

- Bị đơn: Anh Bùi Văn Kh, sinh năm 1997. Nơi ĐKHKTT: xóm Rậm Kẻm, xã Quý Hòa, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình; Nơi ở hiện nay: Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Quảng Ninh (Địa chỉ: thôn Đồng Rùa, xã Vũ Oai, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh). Vắng mặt theo đơn xin xét xử vắng mặt ngày 14/12/2022.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn chị Bùi Thị D trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh Bùi Văn Kh kết hôn ngày 28/01/2022, trên cơ sở tự nguyện, tự do tìm hiểu và đăng ký kết hôn hợp pháp tại UBND xã Quý Hòa, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình. Thời gian đầu chung sống, hai vợ chồng sống hòa thuận, yêu thương nhau. Đến tháng 06/2022, hai vợ chồng xảy ra mâu thuẫn bất hòa, nguyên nhân là anh Bùi Văn Kh có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên bị cơ quan có thẩm quyền tại thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh xem xét lập hồ sơ đề nghị xử lý bằng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Hiện nay, anh Bùi Văn Kh đang chấp hành Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Quảng Ninh. Cho đến thời điểm này, chị Diềm xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị Diềm đề nghị ly hôn với anh Bùi Văn Kh.

Về con chung: Chị Diềm và anh Khải không có con chung.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết; Về công nợ chung: Không có.

Ngoài ra chị Diềm không có yêu cầu gì thêm.

Tại bản tự khai anh Bùi Văn Kh trình bày:

Về hôn nhân: Anh và chị Bùi Thị D kết hôn vào ngày 28/01/2022, trên cơ sở tự nguyện, tự do tìm hiểu và đăng ký kết hôn hợp pháp tại UBND xã Quý Hòa, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình.

Thời gian đầu chung sống, hai vợ chồng sống hòa thuận, yêu thương nhau. Đến tháng 06/2022 do anh Khải có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên anh Khải bị cơ quan có thẩm quyền tại thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh xem xét lập hồ sơ đề nghị xử lý bằng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Hiện nay, anh Khải đang chấp hành Quyết định Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 27/QĐ-TA ngày 29/07/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Quảng Ninh (Địa chỉ: thôn Đồng Rùa, xã Vũ Oai, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh). Do bản thân vi phạm pháp luật phải đi cai nghiện bắt buộc, không có điều kiện chăm sóc gia đình. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên cô Bùi Thị D đề nghị ly hôn anh Khải đồng ý.

Về con chung: Chị Diềm và anh Khải không có con chung.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết; Về công nợ chung: Không có.

Ngoài ra anh Khải không có yêu cầu gì thêm.

* Tại biên bản xác minh ngày ngày 24/11/2022 của Tòa án nhân dân huyện Lạc Sơn chính quyền địa phương nơi cư trú của chị Bùi Thị D và anh Bùi Văn Kh có nội dung:

Anh Bùi Văn Kh và chị Bùi Thị D kết hôn ngày 28/01/2022 trên cơ sở tự nguyện, tự do tìm hiểu và đăng ký kết hôn hợp pháp tại UBND xã Quý Hòa, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình. Thời gian đầu chung sống, hai vợ chồng sống hòa thuận, yêu thương nhau. Đến tháng 06/2022, hai vợ chồng xảy ra mâu thuẫn bất hòa, nguyên nhân là anh Bùi Văn Kh có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên bị cơ quan có thẩm quyền tại thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh xem xét lập hồ sơ đề nghị xử lý bằng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Hiện nay, anh Bùi Văn Kh đang chấp hành Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Quảng Ninh. Hai vợ chồng ly thân từ giữa giữa năm 2022 cho đến nay, khả năng đoàn tụ là rất khó.

Về con chung: Anh Khải và chị Diềm không có con chung.

Về sự có mặt/vắng mặt của anh Bùi Văn Kh tại nơi cư trú: anh Bùi Văn Kh hiện đang chấp hành Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Quảng Ninh nên không có mặt tại địa phương.

*Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

Về tố tụng: Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình công nhận việc chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự của Thẩm phán, HĐXX và các đương sự từ khi thụ lý đến trước khi HĐXX nghị án.

Về nội dung:

- Về quan hệ hôn nhân: Xác định mâu thuẫn giữa chị Diềm và anh Khải đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Diềm.

- Về con chung: Không có nên đề nghị HĐXX không xem xét.

- Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết; Về công nợ chung: Không có nên đề nghị HĐXX không xem xét.

- Về án phí: Đề nghị căn cứ vào Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc chị Diềm phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án; được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa HĐXX nhận ®Þnh:

Về tố tụng: Đây là vụ án hôn nhân và gia đình “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. Bị đơn là anh Bùi Văn Kh có hộ khẩu thường trú tại xóm Rậm Kẻm, xã Quý Hòa, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình. Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện Lạc Sơn thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án tiến hành thông báo và tống đạt đầy đủ các văn bản cho các bên đương sự theo quy định tại khoản 1 Điều 175 và khoản 1, 2 Điều 177 của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định tại Điều 211 BLTTDS. Tiến hành hòa giải theo quy định tại Điều 205 BLTTDS để hai bên thỏa thuận với nhau việc giải quyết vụ án. Anh Khải và chị Diềm đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa, đã được đảm bảo thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình trong quá trình giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa và có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt. Căn cứ Điều 227; khoản 1 và khoản 3 Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt anh Khải và chị Diềm.

Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Diềm và anh Khải được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn, là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống chị Diềm và anh Khải không có hạnh phúc do hai vợ chồng bất đồng quan điểm sống, anh Khải đi chấp hành Quyết định Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc nên không có thời gian chăm sóc gia đình. Từ những nhận định trên thấy mâu thuẫn giữa anh Khải và chị Diềm đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không thể đạt được, tại bản tự khai anh Khải đồng ý ly hôn nên HĐXX công nhận việc thuận tình ly hôn giữa hai anh chị là phù hợp Điều 51; Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung, cấp dưỡng: Quá trình chung sống, anh Khải và chị Diềm không có con chung nên HĐXX không xem xét

Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết; công nợ chung: không có nên HĐXX không xem xét.

Về án phí: Chị Diềm phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời gian luật định.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 51; Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

1. Về hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Bùi Thị D và anh Bùi Văn Kh.

2. Về án phí: Chị Bùi Thị D phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm và được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền số 0004407 ngày 21/10/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạc Sơn. Chị Bùi Thị D đã nộp đủ án phí.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thì hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

3. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án, hoặc ngày niêm yết bản sao bản án. Nơi nhận:

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

- Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình;

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND tỉnh Hòa Bình;

- VKSND huyện Lạc Sơn;

- CCTHA huyện Lạc Sơn;

- UBND xã Quý Hòa;

- Đương sự;

- Lưu hồ sơ.

Nguyễn Thị Thanh Hoa

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

1. Bùi Văn Ơn

Bùi Văn Thiệu

Nguyễn Thị Thanh Hoa

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 51; Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình năm

2014;

Căn cứ Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều

271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14

ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về

mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí

Tòa án

1. Về hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị

Bùi Thị D và anh Bùi Văn Kh.

2. Về án phí: Chị Bùi Thị D phải chịu 300.000 đồng (Ba

trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm và được khấu trừ vào số

tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng)

theo biên lai thu tiền số 0004319 ngày 29/4/2022 của Chi cục thi

hành án dân sự huyện Lạc Sơn. Chị Bùi Thị D đã nộp đủ án phí.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

1. Bùi Văn Ơn

Bùi Văn Thiệu

Nguyễn Thị Thanh Hoa

Cỡ chữ