vanban.org

Bản án 39/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh Nguyễn Đức V và chị Nguyễn Thị H.

Về nuôi con chung sau ly hôn: Giao cho anh Nguyễn Đức V được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là Nguyễn Đức A; sinh ngày 16/01/2014 (hiện đang ở với anh V tại khu 15, xã H, huyện T); Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án"
  • Tòa quyết gì? Xử: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh Nguyễn Đức V và chị Nguyễn Thị H.
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THANH BA
TỈNH PHÚ THỌ
==============================================================
Bản án số: 39/2022/HNGĐ-ST
Ngày 25 tháng 8 năm 2022

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

"V/v Hôn nhân và gia đình”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BA, TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tạ Hồng Tuấn

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Mạnh Cường và ông Vi Văn Mạnh

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Đình Hòa - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ.

Trong ngày 25 tháng 8 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 25/2022/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 02 năm 2022 về việc “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 82/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 8 năm 2022 giữa các đương sự;

Nguyên đơn: Anh Nguyễn Đức V - Sinh n¨m 1978

N¬i c tró: Khu 15, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ

Bị đơn: Chị Nguyễn Thị H - Sinh n¨m 1977

N¬i c tró: Khu 15, xã H, huyÖn T, tØnh Phó Thä

Hiện ở tại: Phố A, phường Đ, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc

Các đương sự đều có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trong quá tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn anh Nguyễn Đức V trình bày về nội dung và yêu cầu khởi kiện như sau:

- Anh và chị Nguyễn Thị H tù nguyÖn kÕt h«n víi nhau ngày 17/12/2012, cã ®¨ng ký kÕt h«n t¹i ñy ban nh©n d©n x· Y (nay là xã H), huyÖn T, tỉnh Phú Thọ. Sau khi kÕt h«n, vợ chồng thuê nhà sống chung và làm ăn ăn tại phường Đ, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc. Quá trình chung sống đã phát sinh mâu thuẫn, nguyªn nh©n lµ do vî chång có nhiều bÊt ®ång trong cuéc sèng, chÞ H kh«ng cã tr¸ch nhiÖm víi gia ®×nh nhµ anh, cuéc sèng vî chång kh«ng cã h¹nh phóc nªn anh vµ chÞ H ®· sèng ly th©n nhau tõ n¨m 2018 ®Õn nay. Anh x¸c ®Þnh t×nh c¶m vî chång kh«ng cßn v× vËy yªu cÇu ® îc ly h«n chÞ NguyÔn ThÞ H.

- VÒ con chung: Anh NguyÔn §øc V tr×nh bµy anh vµ chÞ NguyÔn ThÞ H cã víi nhau 02 con chung lµ NguyÔn §øc A; sinh ngµy 16/01/2014 vµ NguyÔn §øc Q; sinh ngµy 30/11/2018. Ch¸u NguyÔn §øc A ®· vÒ ë víi anh t¹i khu 15, x· H tõ n¨m 2016 vµ hiÖn ®ang häc TiÓu häc x· N. Cßn ch¸u NguyÔn §øc Q vÉn ®ang ë víi chÞ H t¹i phè A, ph êng §, thµnh phè V, tỉnh Vĩnh Phúc. Sau khi ly h«n, anh yªu cÇu ® îc trùc tiÕp nu«i d ìng c¶ 02 con chung, kh«ng yªu cÇu chÞ H cÊp d ìng nu«i con.

- VÒ tµi s¶n chung anh V không yêu cầu giải quyết.

- Về vay nî chung, c«ng søc ®ãng gãp vµ c¸c vÊn ®Ò kh¸c anh V xác nhận anh và chị H không có nên kh«ng yªu cÇu.

* Bị đơn là chÞ NguyÔn ThÞ H tr×nh bµy: ChÞ H trình bày về thời gian kết hôn, thủ tục kết hôn và thời gian vợ chồng chung sống đúng như anh NguyÔn §øc V đã trình bày ở trên. Quá trình chung sống vợ chồng có nhiều bất đồng, anh V rượu chè, chơi bời rồi chửi mắng chị, không có trách nhiệm với gia đình làm cho cuộc sống vợ chồng không hòa thuận. Năm 2016, anh V đã đưa con lớn về quê anh V ở xã H, huyện T ở, còn giữa chị và anh V cũng chính thức không còn sống chung từ năm 2021 cho đến nay. Chị cũng xác định hôn nhân giữa chị với anh V không có hạnh phúc vì vậy chị cũng đồng ý ly hôn với anh Nguyễn Đức V.

- Về con chung: Chị Nguyễn Thị H xác nhận chị và anh Nguyễn Đức V có với nhau 02 con chung đúng như anh V đã trình bày. Con lớn là Nguyễn Đức A hiện đang đi học và ở với anh V tại khu 15, xã H, huyện T. Còn con thứ hai là Nguyễn Đức Q đang do chị trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng và ở với chị tại phố A, phường Đ, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc.

Tại phiên tòa, chị H yêu cầu được tiếp tục trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng 01 con chung là Nguyễn Đức Q, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung chị H không yêu cầu giải quyết.

- Về vay nợ chung, công sức đóng góp và các vấn đề khác chị H xác nhận chị và anh V không có nên không yêu cầu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, mặc dù đã được Tòa án triệu tập, thông báo hợp lệ nhưng các đương sự không có mặt đúng thời gian triệu tập nên Tòa án không tiến hành hòa giải được vụ án và quyết địnhh đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.

. Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Đức V và chị Nguyễn Thị H kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp luật và được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đăng ký kết hôn do vậy là hôn nhân hợp pháp. Nhưng trong quá trình chung sống, do bất đồng cách sống, vợ chồng không có sự chia sẻ với nhau về các vấn đề vướng mắc trong cuộc sống dẫn đến phát sinh mâu thuẫn, cuộc sống chung không được hòa thuận, không hạnh phúc và đã không còn sống chung từ năm 2021 cho đến nay. Anh V và chị H đều xác định mâu thuẫn vợ chồng không thể hàn gắn, tình cảm không còn nên đều yêu cầu được ly hôn. Xét yêu cầu ly hôn của hai bên là hoàn toàn tự nguyện, không trái pháp luật nên được chấp nhận.

. Về nuôi con chung sau ly hôn: Anh Nguyễn Đức V và chị Nguyễn Thị H đều xác nhận có 02 con chung như đã trình bày trên. Xét yêu cầu được nuôi con của hai bên là nguyện vọng chính đáng, xuất phát từ tình cảm, trách nhiệm của người cha, người mẹ đối với con của minh và mỗi bên cũng có các điều kiện nhất định để nuôi con. Nhưng thực tế thì từ nhiều năm nay con chung là Nguyễn Đức A đã về ở tại khu 15, xã H cùng với anh V, đang có cuộc sống học tập ổn định, còn con thứ hai là Nguyễn Đức Q cũng đang do chị H trực tiếp chăm sóc và có cuộc sống ổn định. Vì vậy để cho các con chung không bị ảnh hưởng tâm lý khi phải thay đổi môi trường, tiếp tục có cuộc sống ổn định để học tập và phát triển và cũng để cho anh V, chị H cùng chia sẻ trách nhiệm trong việc nuôi dạy giáo dục con, đảm bảo cho việc chăm sóc nuôi dưỡng con tốt nhất nên sau khi ly hôn giữ nguyên hiện trạng nuôi con như hiện nay, cụ thể anh V tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng con chung là Nguyễn Đức A, còn chị H tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng con chung là Nguyễn Đức Q, như vậy là phù hợp với điều kiện hoàn cảnh thực tế của mỗi bên, đảm bảo được quyền lợi của các con chung.

Về cấp dưỡng nuôi con: Do anh V và chị H mỗi người đều trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng 01 con chung, không ai có yêu cầu cấp dưỡng nên chị H và anh V đều không phải cấp dưỡng nuôi con sau ly hôn.

. Về tài sản chung anh V và chị H không yêu cầu nên không giải quyết.

. Về vay nợ chung và các vấn đề khác anh V và chị H xác nhận không có nên không yêu cầu.

. Về án phí: Anh Nguyễn Đức V là nguyên đơn phải nộp toàn bộ tiền án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Xử: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh Nguyễn Đức V và chị Nguyễn Thị H.

- Về nuôi con chung sau ly hôn:

+ Giao cho anh Nguyễn Đức V được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là Nguyễn Đức A; sinh ngày 16/01/2014 (hiện đang ở với anh V tại khu 15, xã H, huyện T);

+ Giao cho chị Nguyễn Thị H được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là Nguyễn Đức Q; sinh ngày 30/11/2018 (hiện đang ở với chị H tại phố A, phường Đ, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc);

Anh Nguyễn Đức V và chị Nguyễn Thị H không ai phải cấp dưỡng nuôi con sau ly hôn.

Sau khi ly hôn, anh V và chị H đều có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

- Về tài sản chung anh Nguyễn Đức V và chị Nguyễn Thị H không yêu cầu nên không giải quyết

- Về vay nợ chung, công sức đóng góp và các vấn đề khác không có nên không giải quyết.

- Về án phí: Anh Nguyễn Đức V phải nộp toàn bộ tiền án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000.đ (ba trăm nghìn đồng). Xác nhận anh V đã nộp 300.000.đ (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí tại “Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án” số AA/2020/0003308 ngày 14 tháng 02 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ.

Các đương sự có mặt được quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ