vanban.org

Bản án 39/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Như H.

Về hôn nhân: Cho chị H được ly hôn với anh Trần Trọng T. Về con chung: Giao Trần Bảo A, sinh ngày 22/3/2020 cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng, việc cấp dưỡng không đặt ra. Anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Như H.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 39/2022/HNGĐ-ST
Ngày 21 – 02 – 2022
V/v tranh chấp ly hôn
và nuôi con chung

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Càn

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Phạm Thị Hà

Ông Nguyễn Hoài Phong.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ánh Hồng là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi.

Ngày 21 tháng 02 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 422/2021/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 12 năm 2021 về việc “tranh chấp ly hôn và nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 01 năm 2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Như H, sinh năm 2000; nơi cư trú: Khóm x, thị trấn Đ, huyện Đ1, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).

- Bị đơn: Anh Trần Trọng T, sinh năm 1995; nơi cư trú: Ấp T1, xã T2, huyện Đ1, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện của chị Nguyễn Như H, thể hiện:

Về hôn nhân: Chị H và anh Trần Trọng T tự nguyện chung sống vào năm 2017, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T2, huyện Đ1 vào ngày 24/02/2020; khi về chung sống phát sinh mâu thuẫn nên đã sống ly thân khoảng 02 năm nay. Từ nguyên nhân trên, chị H xác định không thể hàn gắn quay lại chung sống, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu được ly hôn với anh T.

Về con chung: có 01 người con tên Trần Bảo A, sinh ngày 22/3/2020 do chị H đang nuôi dưỡng. Khi ly hôn, chị H yêu cầu được tiếp tục nuôi Bảo A, việc cấp dưỡng không đặt ra.

Về tài sản chung và các vấn đề khác: Không có.

* Đối với anh Trần Trọng T: Mặc dù đã được tống đạt Thông báo về việc thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng về yêu cầu khởi kiện của chị H nhưng anh T không có ý kiến gì và không tham gia hòa giải và xét xử.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Chị Nguyễn Như H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh Trần Trọng T đã được Tòa án triệu tập đến lần thứ hai để tham gia xét xử nhưng vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt đối với các đương sự này là phù hợp và đúng quy định.

Chị H và anh T tự nguyện chung sống vào năm 2017, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T3, huyện Đ1 vào ngày 24/02/2020. Khi về chung sống phát sinh mâu thuẫn nên đã sống ly thân khoảng 02 năm nay. Từ nguyên nhân trên, chị H xác định không thể hàn gắn quay lại chung sống, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu được ly hôn với anh T. Anh T không có ý kiến gì về quan hệ hôn nhân, nguyên nhân mâu thuẫn, thời gian sống ly thân theo yêu cầu xin ly hôn của chị H.

Xét yêu cầu của chị H, thấy rằng: Hôn nhân của chị H và anh T có đăng ký kết hôn hợp pháp nên được pháp luật tôn trọng và bảo vệ. Tuy nhiên, chị H yêu cầu xin ly hôn nhưng qua các lần triệu tập xét xử anh T đều vắng mặt không có lý do, thể hiện việc anh T không có thiện chí hòa giải, hàn gắn; điều đó cho thấy tình trạng hôn nhân của anh, chị đã trầm trọng và không thể hàn gắn trở lại nên căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, cho chị H ly hôn với anh T là phù hợp và đúng quy định của pháp luật.

Về con chung: Chị H yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng Trần Bảo A, sinh ngày 22/3/2020; anh T không có ý kiến gì về vấn đề này. Do đó, để ổn định trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục nên giữ nguyên Bảo A cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp và đúng quy định của pháp luật. Anh T có quyền, nghĩa vụ đối với Bảo A theo quy định của pháp luật; trường hợp có sự ngăn cản việc thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình thì anh T có quyền yêu cầu đến chính quyền địa phương can thiệp làm căn cứ cho việc thay đổi việc nuôi con sau này.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị H không có yêu cầu nên không đặt ra xem xét; trường hợp có phát sinh tranh chấp sẽ được xem xét, giải quyết bằng vụ án khác.

Về tài sản chung và các vấn đề khác: Chị H xác định không có, anh T không có ý kiến gì về các nội dung này nên không đặt ra xem xét; trường hợp có phát sinh tranh chấp sẽ được xem xét, giải quyết bằng vụ án khác.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì chị H phải chịu trong vụ án ly hôn là 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 4 Điều 147, khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Như H.

- Về hôn nhân: Cho chị H được ly hôn với anh Trần Trọng T.

- Về con chung: Giao Trần Bảo A, sinh ngày 22/3/2020 cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng, việc cấp dưỡng không đặt ra. Anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

2. Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị H phải chịu trong vụ án ly hôn là 300.000 đồng nhưng được trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0011816 ngày 23 tháng 12 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi (chị H đã nộp xong).

3. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.

Cỡ chữ