vanban.org

Bản án 39/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 99, ngày 05/5/2016 do Ủy ban nhân dân xã NM, huyện CM, tỉnh An Giang cấp cho chị Trương Thị B và anh Trần Quốc T không còn giá trị pháp lý.

[2] Về con chung: Chị Trương Thị B được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Trần Thị Thúy H, sinh ngày 27/5/2016, hiện đang sống chung với chị Trương Thị B. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 99, ngày 05/5/2016 do Ủy ban nhân dân xã NM, huyện CM, tỉnh An Giang cấp cho chị Trương Thị B và anh Trần Quốc T không còn giá trị pháp lý.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHỢ MỚI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 39/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 31 - 3 - 2022
V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con
khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Phước Sang

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đặng Văn Tâm

2. Bà Phan Thị Nga

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Lắm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới tham gia phiên tòa: Ông Lê Hoàng Vỉnh - Kiểm sát viên

Trong ngày 31 tháng 3 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 549/2021/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 12 năm 2022 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 46/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 02 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 59/2022/QĐST-HNGĐ ngày 11 tháng 3 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang, giữa:

1. Nguyên đơn: Chị Trương Thị B, sinh ngày 28/02/1997

Địa chỉ: Ấp TL, xã TT, huyện CĐ, thành phố Cần Thơ (có mặt)

2. Bị đơn: Anh Trần Quốc T, sinh ngày 19/12/1995

Địa chỉ: Ấp AN, xã NM, huyện CM, tỉnh An Giang (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Trương Thị B trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị B và anh T tự tìm hiểu và tiến tới hôn nhân vào năm 2015, có đăng ký kết hôn tại xã NM, huyện CM, tỉnh An Giang vào ngày 05/5/2016. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống đến khoảng tháng 4/2021 thì phát sinh mâu thuẫn do anh T có tình cảm với người phụ nữ khác và vợ chồng không còn sống chung từ đó cho đến nay. Trong thời gian vợ chồng sống ly thân, gia đình hai bên không có động viên để hàn gắn tình cảm vợ chồng cho Chị B và anh T; bản thân Chị B và anh T cũng không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng. Khoảng tháng 4/2021, anh T có ý định ly hôn với chị B và có điện thoại cho chị B yêu cầu chị B làm thủ tục ly hôn với anh T nhưng do tình hình dịch bệnh Covid-19 nên không làm thủ tục ly hôn được. Hiện nay anh T đang ở đâu thì chị B không xác định được. Nhận thấy mâu thuẫn của vợ chồng đã quá trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, đời sống hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị B yêu cầu được ly hôn với anh T.

- Về con chung: Chị B và anh T có 02 con chung tên Trần Thị Thúy H, sinh ngày 27/5/2016 và Trần Quốc M, sinh ngày 16/5/2018, hiện nay con chung tên Trần Thị Thúy H đang sống với chị B; còn Trần Quốc M đang sống với anh T. Sau khi ly hôn, chị B yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Trần Thị Thúy H; chị B đồng ý để anh T được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Trần Quốc M; hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh Trần Quốc T vắng mặt nên không ghi nhận được ý kiến. Tại phiên tòa, Chị Trương Thị B vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Yêu cầu được ly hôn với anh Trần Quốc T. Yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Trần Thị Thúy H, sinh ngày 27/5/2016; đồng ý để anh T được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Trần Quốc M, sinh ngày 16/5/2018; Chị B và anh T không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh Trần Quốc T vắng mặt nên không ghi nhận được ý kiến. Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm: Việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án dân sự ở giai đoạn sơ thẩm: Người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đã làm đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Về nội dung vụ án: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trương Thị B đối với anh Trần Quốc T. Chị Trương Thị B được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Trần Thị Thúy H, sinh ngày 27/5/2016; anh Trần Quốc T được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Trần Quốc M, sinh ngày 16/5/2018; chị Trương Thị B và anh Trần Quốc T không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Đối với tài sản chung, nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập đến.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Chị Trương Thị B khởi kiện yêu cầu được ly hôn và tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung khi ly hôn đối với anh Trần Quốc T là tranh chấp về hôn nhân và gia đình. Đồng thời, anh Trần Quốc T (bị đơn) có nơi cư trú tại Ấp AN, xã NM, huyện CM, tỉnh An Giang nên Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới thụ lý giải quyết là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Đối với anh Trần Quốc T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia tố tụng trong vụ án nhưng vắng mặt không có lý do trong quá trình tố tụng tại Tòa án và không có ý kiến phản hồi đối với yêu cầu khởi kiện của chị Trương Thị B nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét. Đồng thời, tại phiên tòa, anh Trần Quốc T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 02 để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do chính đáng. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Trần Quốc T.

Về nội dung vụ án:

Đối với quan hệ hôn nhân: Chị Trương Thị B và anh Trần Quốc T kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã NM, huyện CM, tỉnh An Giang ngày 05/5/2016 theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình, là hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Căn cứ lời trình bày của chị Trương Thị B, vợ chồng chung sống đến tháng 4/2021 thì phát sinh mâu thuẫn do anh T có tình cảm với người phụ nữ khác. Trong thời gian vợ chồng sống ly thân, gia đình 02 bên không có động viên, hàn gắn tình cảm vợ chồng cho chị B, anh T; anh T không có liên lạc, thăm nom chị B. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật để tiến hành hòa giải, hàn gắn tình cảm vợ chồng cho Chị B và anh T nhưng anh T đều vắng mặt, xem như đã tự từ bỏ quyền của mình nên Tòa án không tiến hành hòa giải được; thể hiện anh T không có thiện chí níu kéo quan hệ hôn nhân giữa Chị B và anh T. Do đó, có đủ căn cứ xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa Chị B và anh T đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, việc chị B yêu cầu ly hôn anh T phù hợp với khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên có cơ sở chấp nhận.

Đối với con chung: Chị Trương Thị B xác định vợ chồng có 02 con chung tên Trần Thị Thúy H, sinh ngày 27/5/2016 và Trần Quốc M, sinh ngày 16/5/2018. Sau khi ly hôn, chị B yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Trần Thị Thúy H; đồng ý để anh T được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Trần Quốc M. Xét thấy, anh T đã tự từ bỏ các quyền của mình trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án và việc giao con chung chưa thành niên cho người chăm sóc, nuôi dưỡng sau khi ly hôn phải đảm bảo điều kiện phát triển tốt nhất cho con cả về vật chất lẫn tinh thần. Căn cứ các tài liệu, chứng cứ do chị B cung cấp, hiện nay con chung tên Trần Thị Thúy H đang sống với chị B, con chung tên Trần Quốc M đang sống với anh T từ thời điểm vợ chồng sống ly thân nên tình cảm của các cháu đã gắn liền với người nuôi dưỡng. Để ổn định cuộc sống cho cháu H và cháu M nên yêu cầu khởi kiện của chị B đối với con chung của vợ chồng khi ly hôn phù hợp với khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận. [2.3] Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Trương Thị B và anh Trần Quốc T là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung sau khi ly hôn nên chị Trương Thị B và anh Trần Quốc T đều có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định tại khoản 2 Điều 82, Điều 110, Điều 116 và Điều 117 Luật hôn nhân và gia đình. Tuy nhiên, chị Trương Thị B không yêu cầu Tòa án giải quyết, anh Trần Quốc T vắng mặt nên không ghi nhận được ý kiến nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét. Trường hợp sau này có tranh chấp sẽ được giải quyết bằng một vụ án dân sự khác. [2.4] Đối với tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét. Trường hợp sau này có tranh chấp sẽ được giải quyết bằng một vụ án dân sự khác. [3] Về án phí và quyền kháng cáo: Bà Trương Thị B phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Các đương sự được quyền kháng cáo Bản án theo quy định tại Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Điều 28, 35, 39, 147, 227, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Trương Thị B. [1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Trương Thị B được ly hôn anh Trần Quốc T.

Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 99, ngày 05/5/2016 do Ủy ban nhân dân xã NM, huyện CM, tỉnh An Giang cấp cho chị Trương Thị B và anh Trần Quốc T không còn giá trị pháp lý.

[2] Về con chung:

Chị Trương Thị B được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Trần Thị Thúy H, sinh ngày 27/5/2016, hiện đang sống chung với chị Trương Thị B.

Anh Trần Quốc T được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Trần Quốc M, sinh ngày 16/5/2018, hiện đang sống chung với anh Trần Quốc T.

Chị Trương Thị B và anh Trần Quốc T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Chị Trương Thị B và anh Trần Quốc T cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở nhau trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

Vì lợi ích của con chung, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

[3] Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[4] Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Trương Thị B phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng đã nộp theo Biên lai số 0009829 ngày 10/12/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Chợ Mới.

[6] Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

[7] Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ