- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Ngọc M đối với ông Nguyễn Thanh T.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 117 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 39/2022/HNGĐ-ST Ngày: 14-01-2022 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Long Toàn
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trần Thị Nga
2. Bà Nguyễn Thị Nguyên
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Minh Phúc – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Thái - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 01 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 316/2022/TLST-HNGĐ ngày 31 tháng 3 năm 2021 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 283/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 11 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 249/2021/QĐST-HNHGĐ ngày 16 tháng 12 năm 2021 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Ngọc M , sinh năm 1984
Địa chỉ: xã H, huyện C, tỉnh Long An (có mặt).
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh T, sinh năm 1980
Địa chỉ: xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện đề ngày 09 tháng 03 năm 2021 và lời trình bày trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Ngọc M trình bày:
Bà Nguyễn Ngọc M và ông Nguyễn Thanh T quen biết và tiến đến hôn nhân năm 2006 và đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 219/2006 quyển số 02/P.09 do UBND Phường 9, Quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 29/12/2006. Quá trình chung sống, thời gian đầu hạnh phúc. Đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, vợ chồng thường hay cự cãi nhau. Bà Mai và ông Tùng đã không còn chung sống từ năm 2019 đến nay.
Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Diệp Ái V, sinh ngày 12/02/2008, giới tính nữ và Nguyễn Diệp Yến D, sinh ngày 20/9/2012, giới tính nữ; hiện 02 trẻ đang sống chung với bà Mai. Khi ly hôn, bà Mai xin được nuôi 02 con chung và không yêu cầu ông Nguyễn Thanh T cấp dưỡng nuôi con chung .
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Nguyễn Thanh T đã được Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Giấy triệu tập tham gia phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải và tham gia phiên toà nhưng ông Nguyễn Thanh T vẫn vắng mặt không rõ lý do.
Tại bản khai ngày 07/4/2021 trẻ Nguyễn Diệp Ái V, sinh ngày 12/02/2008 đã khai: Trẻ hiện đang sống chung với mẹ, nay cha mẹ con ly hôn thì con xin được ở với mẹ Nguyễn Ngọc M.
Tại bản khai ngày 07/4/2021 trẻ Nguyễn Diệp Yến D, sinh ngày 20/9/2012 đã khai: Trẻ hiện đang sống chung với mẹ, nay cha mẹ con ly hôn thì con xin được ở với mẹ Nguyễn Ngọc M.
Tại phiên toà:
Nguyên đơn bà Nguyễn Ngọc M trình bày: Bà Mai xin được ly hôn với ông Nguyễn Thanh T. Bà xin được nuôi 02 con chung là trẻ Nguyễn Diệp Ái V, sinh ngày 12/02/2008 và trẻ Nguyễn Diệp Yến D, sinh ngày 20/9/2012 và không yêu cầu ông Nguyễn Thanh T cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: bà Mai xác nhận không có và không yêu cầu Toà án giải quyết.
Bị đơn ông Nguyễn Thanh T đã được Toà án nhân dân huyện Bình Chánh triệu tập hợp lệ tham gia phiên toà đến lần thứ 2 mà vẫn vắng mặt không có lý do.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh: Bà Vũ Thị Thái, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng theo quy định.
- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Bà Nguyễn Ngọc M nộp đơn khởi kiện xin được ly hôn với ông Nguyễn Thanh T. Ông Nguyễn Thanh T cư trú tại số xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh nên căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
[2] Về tố tụng: Nguyên đơn bà Nguyễn Ngọc M có mặt, bị đơn ông Nguyễn Thanh T đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt, không rõ lý do nên căn cứ vào khoản 2 Điều 227; Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 Tòa án tiến hành vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
Về yêu cầu của đương sự, Hội đồng xét xử xét thấy như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ theo Giấy chứng nhận kết hôn số 219/2006 quyển số 02/P.09 do UBND Phường 9, Quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 29/12/2006 thì hôn nhân giữa bà Nguyễn Ngọc M và ông Nguyễn Thanh T là hợp pháp, theo đúng quy định của Luật hôn nhân và gia đình.
Theo lời khai của bà Nguyễn Ngọc M thì bà Mai và ông T sống chung từ năm 2006, trong quá trình chung sống thời gian đầu có hạnh phúc nhưng sau đó có nhiều mâu thuẫn, không hạnh phúc, thường xảy ra xung đột bất đồng, cãi vã nhau, bà Mai và ông Tùng đã không sống chung từ năm 2019. Bà Nguyễn Ngọc M vẫn giữ nguyên yêu cầu xin được ly hôn với ông Nguyễn Thanh T.
Đối với bị đơn ông Nguyễn Thanh T, mặc dù Tòa án đã nhiều lần triệu tập và tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án như Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa, nhưng ông T vẫn vắng mặt và không có ý kiến phản hồi về yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn bà Nguyễn Ngọc M, điều này chứng tỏ ông T không có mong muốn đoàn tụ gia đình để cùng bà M xây dựng một gia đình hạnh phúc, mâu thuẫn giữa bà Nguyễn Ngọc M và ông Nguyễn Thanh T ngày càng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung không thể kéo dài.
Theo nội dung Công văn trả lời số 1961/UBND ngày 08/6/2021 của UBND xã Vĩnh Lộc B, huyện Bình Chánh xác minh về tình trạng hôn nhân giữa bà Nguyễn Ngọc M và ông Nguyễn Thanh T như sau: “…Trong quá trình chung sống giữa bà M và ông T thỉnh thoảng xãy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm với nhau, hiện tại bà M và ông T đã sống ly thân, Trẻ Nguyễn Diệp Ái V và Nguyễn Diệp Yến D do bà M trực tiếp nuôi dưỡng…”.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Do đó, căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 xét yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Ngọc M đối với ông Nguyễn Thanh T là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Diệp Ái V, sinh ngày 12/02/2008, giới tính nữ và Nguyễn Diệp Yến D, sinh ngày 20/9/2012, giới tính nữ; hiện 02 trẻ đang sống chung với bà M.
Nguyên đơn bà Nguyễn Ngọc M yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung và không yêu cầu ông Nguyễn Thanh T cấp dưỡng nuôi con.
Tại bản khai ngày 07/04/2021, trẻ Nguyễn Diệp Ái V và trẻ Nguyễn Diệp Yến D có nguyện vọng xin được ở với mẹ khi cha mẹ ly hôn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu xin được nuôi con chung của bà Nguyễn Ngọc M là có cơ sở chấp nhận.
Giao trẻ Nguyễn Diệp Ái V, sinh ngày 12/02/2008, giới tính nữ và trẻ Nguyễn Diệp Yến D, sinh ngày 20/9/2012, giới tính nữ cho bà Nguyễn Ngọc M trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung.
Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung của ông Nguyễn Thanh T cho đến khi bà Nguyễn Ngọc M có yêu cầu.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con mà lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con, trong trường hợp có yêu cầu được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nợ chung không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử cũng không đặt ra để giải quyết.
[4] Về án phí: Bà Nguyễn Ngọc M phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 59, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 và Điều 117 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Ngọc M đối với ông Nguyễn Thanh T.
2. Bà Nguyễn Ngọc M được ly hôn với ông Nguyễn Thanh T.
Giấy chứng nhận kết hôn số 219/2006 quyển số 02/P.09 do UBND Phường 9, Quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 29/12/2006 không còn giá trị pháp lý.
3. Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Diệp Ái V, sinh ngày 12/02/2008, giới tính nữ và Nguyễn Diệp Yến D, sinh ngày 20/9/2012, giới tính nữ; hiện 02 trẻ đang sống chung với bà M.
Giao trẻ Nguyễn Diệp Ái V, sinh ngày 12/02/2008, giới tính nữ và trẻ Nguyễn Diệp Yến D, sinh ngày 20/9/2012, giới tính nữ cho bà Nguyễn Ngọc M trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung.
Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung của ông Nguyễn Thanh T cho đến khi bà Nguyễn Ngọc M có yêu cầu.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con mà lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con, trong trường hợp có yêu cầu được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.
4. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Ngọc M xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
5. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Ngọc M phải chịu là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) được cấn trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) bà Nguyễn Ngọc M đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí toà án số AA/2019/0081180 ngày 23 tháng 03 năm 2021 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh, bà Nguyễn Ngọc M đã nộp đủ án phí.
5. Đương sự có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng đương sự vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Đương sự; - TAND TP.HCM; - Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp; - Chi cục thi hành án dân sự cùng cấp; - Cơ quan đã thực hiện việc đăng ký kết hôn; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN–CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Long Toàn |