vanban.org

Bản án 39/2022/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

TAND Quận 8, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 11/03/2022 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng XNKVN

Buộc bà Nguyễn Thị Thanh Ng có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng XNKVN số tiền là 56.602.455 (Năm mươi sáu triệu sáu trăm linh hai ngàn bốn trăm năm mươi lăm) đồng. Trong đó nợ gốc: 18.026.977đồng và nợ lãi: 38.575.478đồng. Nợ lãi tính đến ngày 11/3/2022. Thời hạn thanh toán: Thanh toán một lần n… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng XNKVN khởi kiện bà Nguyễn Thị Thanh Ng"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng XNKVN
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 39/2022/DS-ST
Ngày: 11/3/2022
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Doãn Thị Nga

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đoàn Văn Rỹ

2. Bà Thái Thục Hiền

- Thư ký phiên tòa: Bà Hứa Hồng Đào - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Thanh Nhàn - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 3 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 142/2020/TLST-DS ngày 02 tháng 6 năm 2020 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 180/2021/QĐXXST-DS ngày 17 tháng 12 năm 2021; Quyết định hoãn phiên tòa số 14/2022/QĐST-DS ngày 17 tháng 01 năm 2022 và Quyết định tạm ngừng phiên tòa sô 29/2022/QDST-DS ngày 17 tháng 02 năm 2022, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng XNKVN

Trụ sở: Tầng 8, Văn phòng số L8-01-11+16 Tòa nhà VC Center, số 72 LTT, phường BN, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn bà Lưu Thị Trúc Ng, sinh năm 1987 là đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền số 14/2019/EIB-SG/KHCN ngày 21/3/2019). (vắng mặt)

2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Thanh Ng, sinh năm 1995 (vắng mặt)

Địa chỉ: 65/16/12/3 CXD, Phường M, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 21/3/2019 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Ngân hàng XNKVN (Gọi tắt Ngân hàng XNKVN) có bà Lưu Thị Trúc Ng là người đại diện theo ủy quyền trình bày:

Ngày 09/9/2015, Ngân hàng XNKVN và bà Nguyễn Thị Thanh Ng có ký Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế theo hình thức miễn bảo đảm tín dụng (tín chấp). Căn cứ vào thu nhập của bà Ng, Ngân hàng XNKVN đã cấp hạn mức tín dụng là 20.000.000 đồng.

Ngày 12/9/2015 Ngân hàng XNKVN đã phát hành thẻ tín dụng quốc tế Visa chuẩn cho bà Ng, số hồ sơ VC0907, số tài khoản thẻ là 140124849017532, bà Ng đã nhận thẻ ngày 12/9/2015.

Trong quá trình sử dụng thẻ bà Ng đã nhiều lần thực hiện các giao dịch nhưng việc thanh toán tiền trễ hạn nên khi bà Ng trả tiền thì phía ngân hàng ưu tiên trừ tiền lãi và tiền phí trước sau đó mới trừ vào tiền gốc. Đến tháng 12 năm 2016 thì số tiền gốc bà Ng còn nợ là 18.026.977 đồng. Kể từ tháng 12/2016 bà Ng ngưng không thanh toán bất kỳ khoản tiền nào dù Ngân hàng XNKVN nhiều lần nhắc nhở. Căn cứ vào các điều khoản thỏa thuận tại Bản thỏa thuận sử dụng thẻ tín dụng, ngày 07/12/2016 Ngân hàng XNKVN đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ đối với bà Ng và chuyển sang nợ quá hạn.

Nay Ngân hàng XNKVN khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc bà Nguyễn Thị Thanh Ng phải thanh toán số tiền 56.157.640đồng (bao gồm nợ gốc là 18.026.997đồng, nợ lãi quá hạn là 38.575.478đồng, tiền lãi tính đến ngày 11/3/2022).

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ bị đơn bà Nguyễn Thị Thanh Ng đến Tòa án để tự khai, hòa giải và tham gia phiên tòa nhưng bà Ng vẫn vắng mặt không lý do chính đáng. Bà Ng không có bản trình bày lời khai của mình về vụ án cũng như Tòa án không tiến hành hòa giải được. Do đó Tòa án không thể thu thập được lời khai của bà Ng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8 phát biểu quan điểm:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xác định đây là quan hệ tranh chấp hợp đồng tín dụng. Do bị đơn cư trú tại Quận 8 nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 8.

Về tố tụng: Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 trong quá trình giải quyết vụ án. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, thu ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về phiên tòa sơ thẩm. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn chưa thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả số tiền nợ còn thiếu tổng cộng số tiền là 56.157.640 đồng; thanh toán một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật. Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán, ảnh hưởng đến quyền lợi ích hợp pháp của nguyên đơn. Căn cứ các Điều 388, 401, 402, 471, 474 Bộ luật dân sự năm 2005 và Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

Tại phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký chấp hành đầy đủ và đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự, các đương sự thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, sau khi nghe phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Xét, đơn khởi kiện của Ngân hàng XNKVN yêu cầu bà Nguyễn Thị Thanh Ng trả nợ gốc và lãi theo Hợp đồng tín dụng đã ký kết, Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án dân sự về “tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Do bị đơn cư ngụ tại Quận 8, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 36, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về thủ tục tố tụng:

- Nguyên đơn – Ngân hàng XNKVN do bà Lưu Thị Trúc Ng đại diện theo ủy quyền có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn.

- Bị đơn - bà Nguyễn Thị Thanh Ng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng không lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Về yêu cầu của đương sự:

Xét, Ngân hàng XNKVN yêu cầu bà Nguyễn Thị Thanh Ng phải thanh toán số tiền còn thiếu là 56.602.455đồng (Trong đó nợ gốc: 18.026.977đồng và nợ lãi: 38.575.487đồng). Thanh toán một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay bà Ng không có mặt để trình bày lời khai và cung cấp chứng cứ, mặc dù đã được Tòa án thực hiện các thủ tục tống đạt hợp lệ. Do đó Hội đồng xét xử căn cứ vào những chứng cứ, yêu cầu của phía nguyên đơn để xem xét giải quyết vụ án.

Hội đồng xét xử xét thấy, căn cứ Hợp đồng tín dụng hai bên ký ngày 09/9/2015. Trong quá trình thực hiện hợp đồng bà Ng đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, số tiền nợ gốc và lãi còn nợ Ngân hàng XNKVN tính đến ngày 11/3/2022 là 56.602.455 đồng. Bà Ng ngưng thanh toán cho Ngân hàng XNKVN từ tháng 12/2016. Bà Ng vi phạm thỏa thuận giữa các bên trong hợp đồng tín dụng đã ký kết. Căn cứ các Điều 461, Điều 466, Điều 470 của Bộ luật dân sự năm 2015 và Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng XNKVN là có cơ sở để chấp nhận.

Về thời hạn thanh toán:

Xét, Ngân hàng XNKVN yêu cầu bà Ng thanh toán một lần số tiền nợ gốc và nợ lãi còn thiếu ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Hội đồng xét xử xét thấy căn cứ hợp đồng tín dụng hai bên ký kết, bà Ng ngừng thanh toán từ tháng 4/2019 đến nay là vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng tín dụng. Căn cứ Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng XNKVN là có cơ sở để chấp nhận.

Về án phí dân sự sơ thẩm:

Do yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng XNKVN được chấp nhận nên bị đơn bà Ng phải chịu án phí trên số nợ phải thanh toán là 56.602.455đồng x 5% = 2.830.123đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 36, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 khoản 3 Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Điều 461, Điều 466, Điều 470 của Bộ luật dân sự năm 2015;

- Điều 91, Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;

- Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng XNKVN

Buộc bà Nguyễn Thị Thanh Ng có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng XNKVN số tiền là 56.602.455 (Năm mươi sáu triệu sáu trăm linh hai ngàn bốn trăm năm mươi lăm) đồng. Trong đó nợ gốc: 18.026.977đồng và nợ lãi: 38.575.478đồng. Nợ lãi tính đến ngày 11/3/2022.

Thời hạn thanh toán: Thanh toán một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày 12/3/2022 bà Nguyễn Thị Thanh Ng tiếp tục phải chịu tiền lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng thẻ đã ký với Ngân hàng XNKVN ngày 09/9/2015 cho đến khi thi hành xong khoản nợ.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: là 2.830.123 (Hai triệu tám trăm ba mươi ngàn một trăm hai mươi ba) đồng bà Nguyễn Thị Thanh Ng phải chịu, nộp tại cơ quan Thi hành án Dân sự có thẩm quyền.

Hoàn lại cho Ngân hàng XNKVN số tiền 1.314.000 (Một triệu ba trăm mười bốn ngàn) đồng theo biên lai thu số 0019312 ngày 29/3/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 8.

Thi hành tại cơ quan Thi hành án Dân sự có thẩm quyền.

3. Về quyền kháng cáo:

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ