vanban.org

Bản án 39/2021/HSST — Hình sự

TAND TP. Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình Tuyên án 11/06/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo: Đoàn Văn Q, Phan Văn C, Nguyễn Văn H và Nguyễn Xuân S phạm tội “Đánh bạc”.

Về hình phạt: 1. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 08 (tám) tháng tù, nhưng được trừ 03 (ba) ngày đã bị tạm giữ, còn phải chấp hành tiếp 07 (bảy) tháng 27 (hai mươi bảy) ngày tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đoàn Văn Q và đồng phạm phạm tội "Đánh Bạc". - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo: Đoàn Văn Q, Phan Văn C, Nguyễn Văn H và Nguyễn Xuân S phạm tội “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ TAM ĐIỆP
TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 39/2021/HSST
Ngày: 11-6-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TAM ĐIỆP, TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: ông Quách Thành Trung

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Thanh Sơn;

2. Ông Nguyễn Văn Đang.

- Thư ký Tòa án: bà Lê Thị Thu Linh - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Dương Thành - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 6 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 35/2021/TLST-HS ngày 29 tháng 4 năm 2021 và theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2021/TLST-HS ngày 28 tháng 5 năm 2021, đối với các bị cáo:

1. Đoàn Văn Q, sinh ngày: 10/12/1970, tại huyện YM, tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: Tổ A, phường BS, thành phố TĐ, tỉnh Ninh Bình; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: Kinh doanh; trình độ học vấn: 10/10; con ông Đoàn Văn T và bà Ninh Thị N; có vợ và 02 con; tiền án, tiền sự: không; bị tạm giữ từ ngày 15/12/2020 đến ngày 18/12/2020 được thay thế bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại (có mặt).

2. Nguyễn Văn H, sinh ngày: 13/7/1963, tại huyện HL, tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: Tổ B, phường TB, thành phố TĐ, tỉnh Ninh Bình; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 10/10; con ông Nguyễn Thái H và bà Hà Thị L; có vợ là Nguyễn Thị H và 02 con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: (1) bị Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố) Tam Điệp xử phạt 6.000.000 đồng về tội “Đánh bạc” theo Bản án số 49/2011/HSST ngày 31/8/2011, chấp hành xong bản án ngày 05/5/2014 (đã được xóa án tích) - (2) bị Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố) Tam Điệp xử phạt 07 tháng tù, phạt bổ sung 5.000.000 đồng về tội “Đánh bạc” theo Bản án số 47/2014/HSST ngày 28/11/2014, đã chấp hành xong án phí và hình phạt bổ sung (đã được xóa án tích) - (3) bị Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố) Tam Điệp xử 25 tháng tù, phạt bổ sung 5.000.000 đồng về tội “Đánh bạc”. Tổng hợp với hình phạt 7 tháng tù tại bản án hình sự sơ thẩm số 47/2014/HSST ngày 28/11/2014 của Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố) Tam Điệp, buộc Nguyễn Văn H phải chấp hành chung của hai bản án là 32 tháng tù theo Bản án số 01/2015/HSST ngày 07/01/2015, chấp hành xong bản án ngày 06/2/2016 (đã được xóa án tích); bị tạm giữ từ ngày 15/12/2020 đến ngày 18/12/2020 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại (có mặt).

3. Phan Văn C, sinh ngày: 06/10/1958, tại huyện YK, tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: Tổ B, phường TB, thành phố TĐ, tỉnh Ninh Bình; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: hưu trí; trình độ học vấn: 10/10; con ông Phan Văn M và bà Lê Thị N; có vợ và 04 con; tiền án, tiền sự: không; bị tạm giữ từ ngày 15/12/2020 đến ngày 18/12/2020 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại (có mặt).

4. Nguyễn Xuân S, sinh ngày: 01/01/1974, tại huyện YK, tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: phố TL, phường NB, thành phố NB, tỉnh Ninh Bình; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; con ông Nguyễn Duy L và bà Phạm Thị C; có vợ và 02 con; tiền án, tiền sự: không; bị tạm giữ từ ngày 15/12/2020 đến ngày 18/12/2020 được thay thay thế bằng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại (có mặt).

- Người làm chứng: anh Phạm Văn Th (vắng mặt)

- Người chứng kiến: ông Tống Đức D (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ 20 phút ngày 15/12/2020, Phan Văn C và Nguyễn Văn H đến Công ty trách nhiệm hữu hạn Một thành viên ĐV, trụ sở tại thôn 1, xã Đông Sơn, thành phố Tam Điệp chơi uống nước cùng với Đoàn Văn Q là Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm giám đốc và Nguyễn Xuân S là công nhân tại phòng nghỉ của Công ty. Đến khoảng 19 giờ 40 phút cùng ngày, Q rủ C, H và S đánh bài được thua bằng tiền bằng hình thức đánh phỏm thì cả ba đồng ý. Bốn người thống nhất mức đặt cược: người nào “ù” thì thắng ba người còn lại mỗi người 300.000 đồng; người nào có bài về nhất thì thắng và được thu tiền của ba người còn lại lần lượt là người về nhì 50.000 đồng; người về ba 100.000 đồng và người về tư 150.000 đồng; người nào có bài cháy (không có phỏm nào) thì phải nộp tiền cho người về nhất 200.000 đồng; người nào cho ăn cây cuối cùng (cây chốt) thì phải nộp tiền cho người được ăn cây chốt số tiền 200.000 đồng. Sau khi thống nhất, Q lấy ra bộ tú lơ khơ 52 quân có sẵn cùng với C, H và S ngồi trên giường đánh phỏm trong phòng nghỉ của Công ty.

Quá trình đánh bạc Nguyễn Văn H và Phan Văn C ngồi chéo cánh (đối diện nhau) nhận đánh cặp với nhau, còn Đoàn Văn Q và Nguyễn Xuân S ngồi chéo cánh (đối diện nhau) nhận đánh cặp với nhau. H và C thống nhất với nhau ban đầu đánh bạc H sẽ bỏ ra trước số tiền 2.000.000 đồng, khi thua hết số tiền trên thì đến lượt C sẽ bỏ ra số tiền 2.000.000 đồng để đánh tiếp, nếu tiếp tục thua thì hai người lần lượt bỏ ra tiếp số tiền 2.000.000 đồng để đánh, số tiền thắng hoặc thua bạc sẽ chia đều cho nhau. Đoàn Văn Q và Nguyễn Xuân S thống nhất với nhau Q sẽ bỏ ra toàn bộ số tiền dùng đánh bạc cho cả hai, S không phải bỏ tiền, khi thắng thì Q thu tiền về, thua thì Q bỏ tiền ra, nếu thắng bạc thì Q sẽ cho S tiền.

Đoàn Văn Q, Phan Văn C, Nguyễn Văn H và Nguyễn Xuân S đánh phỏm từ 19 giờ 45 phút đến 21 giờ 20 phút cùng ngày thì bị Công an thành phố Tam Điệp phát hiện bắt quả tang, thu giữ 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân do bốn người dùng đánh bạc. Thu giữ của Nguyễn Văn H số tiền 5.200.000 đồng gồm: tiền để trên chiếu 2.800.000 đồng và 01 chiếc ví dạng ví da màu nâu, bên trong có số tiền 2.400.000 đồng để ở trên chiếu để trước mặt; Thu giữ trong túi áo của Đoàn Văn Q 1.500.000 đồng; Thu giữ trong túi quần của Phan Văn C số tiền 3.690.000 đồng; Thu giữ trong túi quần của Nguyễn Xuân S số tiền 1.020.000 đồng. Tổng số tiền thu giữ của bốn người là 11.410.000đ (Mười một triệu bốn trăm mười nghìn đồng).

Quá trình điều tra xác định Đoàn Văn Q, Nguyễn Xuân S, Phan Văn C và Nguyễn Văn H sử dụng tổng số tiền dùng vào việc đánh bạc là 10.390.000đ (Mười triệu ba trăm chín mươi nghìn đồng). Trong đó: Nguyễn Văn H sử dụng 4.400.000 đồng và Phan Văn C sử dụng số tiền 3.690.000 đồng để đánh bạc, khi bị bắt H và C đang thắng 800.000 đồng; Đoàn Văn Q và Nguyễn Xuân S sử dụng số tiền 2.300.000 đồng để đánh bạc, khi bị bắt đang thua 800.000 đồng. Còn lại số tiền 1.020.000 đồng của Nguyễn Xuân S không sử dụng để đánh bạc.

Tại bản cáo trạng số 36/CT-VKS-TPTĐ ngày 28 tháng 4 năm 2021, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình đã truy tố các bị cáo Đoàn Văn Q, Nguyễn Văn H, Phan Văn C và Nguyễn Xuân S về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:

- Tuyên bố các bị cáo Đoàn Văn Q, Nguyễn Văn H, Phan Văn C và Nguyễn Xuân S phạm tội “Đánh bạc”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật Hình sự để xử phạt các bị cáo Đoàn Văn Q từ 30 triệu đồng đến 35 triệu đồng, Phan Văn C từ 25 triệu đồng đến 30 triệu đồng và Nguyễn Xuân S từ 25 triệu đồng đến 30 triệu đồng.

- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H từ 07 tháng tù đến 10 tháng tù.

- Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp: áp dụng các điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, b, c khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự:

+ Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân;

+ Tịch thu sung Ngân sách nhà nước số tiền 10.390.000 đồng;

+ Trả lại 1.020.000 đồng cho bị cáo Nguyễn Xuân S;

- Trả lại 01 chiếc ví dạng ví da màu nâu cho bị cáo Nguyễn Văn H.

Tại phiên tòa các bị cáo Đoàn Văn Q, Nguyễn Văn H, Phan Văn C và Nguyễn Xuân S trình bày diễn biến hành vi đúng như bản cáo trạng đã nêu. Các bị cáo cho rằng bị xét xử là đúng người, đúng tội, đồng ý với luận tội của Viện kiểm sát. Nói lời sau cùng các bị cáo Nguyễn Văn H, Phan Văn C đều đề nghị được giảm nhẹ hình phạt, bị cáo Đoàn Văn Q và bị cáo Nguyễn Xuân S không có ý kiến gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an thành phố Tam Điệp, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác đều không có ý kiến hay khiếu nại về quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Các bị cáo đều nhận tội, lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai người làm chứng, người chứng kiến, vật chứng đã thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, do vậy có đủ cơ sở kết luận: trong khoảng thời gian từ 19 giờ 45 phút đến 21 giờ 20 phút, ngày 15/12/2020 tại phòng nghỉ trong trụ sở Công ty TNHH một thành viên ĐV có trụ sở tại thôn 1, xã Đông Sơn, thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình, các bị cáo Đoàn Văn Q, Phan Văn C, Nguyễn Văn H và Nguyễn Xuân S đánh bạc trái phép được thua bằng tiền bằng hình thức đánh phỏm với tổng số tiền sử dụng đánh bạc là 10.390.000 đồng.

Điều 321 của Bộ luật Hình sự quy định về tội “Đánh bạc” như sau:

“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

...

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”,

Các bị cáo Đoàn Văn Q, Nguyễn Văn H, Phan Văn C và Nguyễn Xuân S đều là người có năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi đánh “Phỏm” được thua bằng tiền với lỗi cố ý, là đánh bạc trái phép, đã xâm phạm trật tự công cộng được pháp luật hình sự bảo vệ, ảnh hưởng xấu đến tình hình trị an ở địa phương. Đối chiếu với quy định nêu trên, hành vi của các bị cáo Đoàn Văn Q, Phan Văn C, Nguyễn Văn H và Nguyễn Xuân S đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”, quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự. Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Các bị cáo: Đoàn Văn Q, Phan Văn C, Nguyễn Văn H và Nguyễn Xuân S đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo Đoàn Văn Q, Phan Văn C và Nguyễn Xuân S đều thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên đều được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo Nguyễn Văn H trong quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, có bố đẻ có nhiều đóng góp cho cách mạng được tặng thưởng Huân chương chiến sĩ vẻ vang, huy hiệu 50 năm tuổi đảng nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về nhân thân:

Các bị cáo Đoàn Văn Q, Phan Văn C và Nguyễn Xuân S đều là người có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự.

Bị cáo Nguyễn Văn H là người có nhân thân xấu, nhiều lần có hành vi đánh bạc trái phép bị kết án, đến nay đã đủ điều kiện được xóa án tích theo quy định của pháp luật.

Về hình phạt:

Xét tính chất hành vi phạm tội, số tiền các bị cáo sử dụng đánh bạc, tình tiết giảm nhẹ và nhân thân của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy đây là vụ án đồng phạm, các bị cáo đều là người thực hành, trong đó:

Bị cáo Nguyễn Văn H bản thân có số tiền cá nhân đem vào đánh bạc lớn nhất, nhân thân đã 03 lần bị kết án về tội đánh bạc mặc dù đã được xóa án tích nhưng đối với bị cáo cần phải áp dụng loại hình phạt tù để giáo dục cải tạo bị cáo, đồng thời đảm bảo tác dụng răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội. Ngoài hình phạt tù, bị cáo Nguyễn Văn H còn phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 3 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

Đối với các bị cáo Đoàn Văn Q, Phan Văn C và Nguyễn Xuân S đều là những người có nhân thân tốt, thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên có thể áp dụng loại hình phạt tiền đối với các bị cáo. Bị cáo Đoàn Văn Q là người khởi xướng và dùng địa điểm do mình quản lý để đánh bạc nên phải chịu mức hình phạt tiền cao nhất, các bị cáo Phan Văn C sử dụng số tiền lớn hơn nên phải chịu mức hình phạt tiền đứng sau Đoàn Văn Q, bị cáo Nguyễn Xuân S là người đánh chéo cánh cùng bị cáo Q, bản thân không bỏ tiền cá nhân ra đánh bạc nên được hưởng mức hình phạt thấp nhất.

Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp:

Đối với số tiền 10.390.000 đồng các bị cáo đã sử dụng vào việc đánh bạc nên theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

Đối với 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân không còn giá trị sử dụng, là công cụ phạm tội nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, các điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với số tiền 1.020.000 đồng của bị cáo Nguyễn Xuân S và 01 chiếc ví dạng ví da màu nâu của Nguyễn Văn H. Các tài sản này không liên quan đến hành vi phạm tội nên căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự cần trả lại số tiền 1.020.000 đồng cho bị cáo Nguyễn Xuân S, trả lại 01 chiếc ví dạng ví da màu nâu cho bị cáo Nguyễn Văn H.

Các bị cáo Đoàn Văn Q, Nguyễn Văn H và Nguyễn Xuân S bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Bị cáo Phan Văn C là người cao tuổi, có đơn xin miễn án phí nên căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Phan Văn C.

Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Đoàn Văn Q, Phan Văn C và Nguyễn Xuân S.

- Căn cứ khoản 1 và khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn H.

- Căn cứ các điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; các điểm a, b, c khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106; Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

1. Tuyên bố các bị cáo: Đoàn Văn Q, Phan Văn C, Nguyễn Văn H và Nguyễn Xuân S phạm tội “Đánh bạc”.

2. Về hình phạt:

2.1. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 08 (tám) tháng tù, nhưng được trừ 03 (ba) ngày đã bị tạm giữ, còn phải chấp hành tiếp 07 (bảy) tháng 27 (hai mươi bảy) ngày tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.

Phạt tiền bổ sung bị cáo Nguyễn Văn H 10.000.000 đồng (mười triệu đồng).

2.2. Xử phạt bị cáo Đoàn Văn Q 35.000.000 đồng (ba mươi lăm triệu đồng).

2.4. Xử phạt bị cáo Phan Văn C 28.000.000 đồng (hai mươi tám triệu đồng).

2.3. Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân S 26.000.000 đồng (hai mươi sáu triệu đồng).

3. Xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp:

- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 10.390.000 đồng (mười triệu ba trăm chín mươi nghìn đồng).

- Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân.

- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Xuân S số tiền 1.020.000 đồng (một triệu không trăm hai mươi nghìn đồng).

- Trả lại 01 chiếc ví dạng ví da màu nâu cho bị cáo Nguyễn Văn H.

(Khoản tiền hiện đang quản lý tại tài khoản của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tam Điệp tại Kho bạc Nhà nước Tam Điệp theo ủy nhiệm chi lập ngày 29/4/2021 giữa Công an thành phố Tam Điệp và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tam Điệp. Các vật chứng khác theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 05/5/2021 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Tam Điệp và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tam Điệp).

4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo Đoàn Văn Q, Nguyễn Văn H và Nguyễn Xuân S mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Phan Văn C.

Án xử sơ thẩm, các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ