- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hoàng N cùng đồng bọn phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ su…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Hoàng N, Bùi Trọng V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA ĐÀN TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 39/2021/HSST Ngày: 14/09/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT N
----------------
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA ĐÀN – TỈNH NGHỆ AN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Lê Viết Hà
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Sỹ Hùng và bà Cao Thị Hằng.
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Võ Thùy Trang - Cán bộ Toà án nhân dân huyện Nghĩa Đàn – tỉnh Nghệ An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Đàn – tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Ông Hồ Diên Khoa - Kiểm sát viên.
Trong ngày 14 tháng 09 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 42/2021/HSST ngày 03 tháng 08 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 50/2021/HSST-QĐ ngày 12 tháng 08 năm 2021 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Hoàng N; Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam; Sinh ngày 19 tháng 08 năm 1983 tại: huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: xóm Hải L, xã Nghĩa L, huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt N; Dân tộc: Kinh;Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Chức vụ trước khi phạm tội: Không; Trình độ học vấn: 6/12; Con ông: Nguyễn Hoàng Ph; Sinh năm: 1963 và bà: Ngô Thị T; Sinh năm: 1964; Vợ: Trần Thị Ng, Sinh năm: 1985;Con: 02 con: con lớn nhất sinh năm 2007, nhỏ nhất sinh năm 2010; Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: - Ngày 25/6/2008 bị Tòa án nhân dân huyện Dĩ An, tỉnh bình Dương xử phạt 20 tháng tù giam về tội Cưỡng đoạt tài sản; Ngày 23/8/2010 bị Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An xử phạt 15 tháng tù giam về tội Cưỡng đoạt tài sản; Bị tạm giữ, tạm giam từ 28/4/2021 đến nay; Có mặt.
2. Bùi Trọng V; Tên gọi khác: Không. Giới tính: N; Sinh ngày 02 tháng 9 năm 1989; Nơi cư trú: xóm Hải Đồng, xã Nghĩa L, huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt N; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Chức vụ trước khi phạm tội: Không; Trình độ học vấn: 3/12; Con ông: Bùi Xuân B; Sinh năm: 1935 và bà: Trần Thị Kh;
Sinh năm: 1945; Vợ: Nguyễn Thị Tr; Sinh năm: 1991; Con có 01 con: sinh năm 2017;Tiền án, tiền sự: không; Bị tạm giữ tạm giam từ 29/4/2021 đến nay; Có mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan : Công ty cổ phần thương mại dịch vụ Lạc H ; Đóng tại: xóm 8, xã Thái S, huyện Đô L, tỉnh Nghệ An. Đại diện theo pháp luật : Ông Nguyễn Công H- chức vụ giám đốc. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 28 tháng 4 năm 2021, Nguyễn Hoàng N có gặp một người đàn ông tên An, khoảng 35 tuổi ở trước khu vực “Trạm dừng chân số 9” thuộc địa phận xóm Sông Lim, xã Nghĩa L, huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An. Quá trình trao đổi thì N mua của người đàn ông tên A một gói ma túy đá được gói trong túi ni lông màu trắng với số tiền 2.000.000 đồng, mua xong người đàn ông tên A cho N thêm 06 viên ma túy( Hồng phiến) được gói trong túi ni lông màu vàng. Sau khi mua được ma túy, Nguyễn Hoàng N chia số ma tuý đá thành bốn gói nhỏ, còn gói ma tuý có sáu viên hồng phiến chia thành một gói giấy bạc chứa hai viên và một gói nilon màu vàng chứa bốn viên. Nguyễn Hoàng N cất giấu bốn gói ma túy đá và một gói giấy bạc chứa hai viên hồng phiến vào trong người; còn gói nilon chứa bốn viên ma tuý hồng phiến cất giấu dưới tấm lót sàn để chân ghế lái của xe taxi mang biển kiểm soát 37A - 316.88. Sau đó, Nguyễn Hoàng N lái xe taxi đến khu vực “Trạm dừng chân số 9” gặp và nhờ Bùi Trọng V lái xe taxi lên huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An chở máy may và vải về xưởng may tại xã Nghĩa Hội, huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An thì V đồng ý. Vì công việc lái xe nên Nguyễn Hoàng N thuê phòng 101 của “Trạm dừng chân số 9” để nghỉ ngơi khi vào phòng thì Bùi Trọng V thấy phòng bẩn nên đổi sang phòng 109 và báo cho N biết. Nguyễn Hoàng N chuẩn bị chai nhựa có gắn cóng thuỷ tinh rồi đi vào phòng 109 thuộc “Trạm dừng chân số 9” để sử dụng ma tuý. Tại phòng 109, Nguyễn Hoàng N lấy ra một gói nilon màu trắng chứa ma tuý đá cất giấu tại kệ rửa mặt trong nhà vệ sinh phòng 109 và đem một gói ma tuý đá ra sử dụng một ít, số còn lại N cất giấu trong cuộn giấy vệ sinh màu trắng trên bàn uống nước đặt giữa hai giường ngủ trong phòng 109; còn hai gói ma tuý đá và một gói giấy bạc chứa hai viên hồng phiến thì N cất giấu trong người. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, Bùi Trọng V điều khiển xe taxi 37A - 316.88 lên đến thị trấn Quỳ Hợp, huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An để lấy hàng cho N thì trong lúc chờ bốc hàng, Bùi Trọng V dọn dẹp bên trong xe taxi phát hiện dưới tấm lót sàn để chân ghế lái xe có một gói nilon màu vàng bên trong chứa bốn viên ma tuý hồng phiến. Sau đó, Bùi Trọng V gói lại và đặt lại vị trí cũ. Sau khi bốc hàng xong, Bùi Trọng V lái xe taxi đi về xưởng may ở xã Nghĩa Hội, huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An để giao hàng. Lúc này, Nguyễn Hoàng N có gọi cho Bùi Trọng V bảo V ra thị xã Thái Hoà lấy vải về cho thợ làm thì V đồng ý rồi lái xe taxi ra thị xã Thái Hoà bốc vải may. Sau khi bốc hàng, N gọi cho V nói V điều khiển xe taxi về “Trạm dừng chân số 9” để trả xe taxi 37A - 316.88 cho N rồi vào nghỉ ăn cơm. Khi xuống xe, Bùi Trọng V lấy ở dưới tấm lót sàn để chân ghế lái xe taxi một gói nilon màu vàng bên trong có chứa bốn viên ma tuý hồng phiến cất giấu vào trong túi quần bên phải. V đi đến bàn ăn cơm ở “Trạm dừng chân số 9” thì gặp Nguyễn Hoàng N đang ngồi ăn cơm cùng với Nguyễn Xuân A, sinh năm 1972, trú tại xóm 8, xã Nghĩa Thuận, thị xã Thái Hoà, tỉnh Nghệ An và Nguyễn Hoàng Tiến, sinh năm 1985, trú tại xóm Hải L, xã Nghĩa L, huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An. Lúc này, Bùi Trọng V đưa xe taxi 37A - 316.88 cho Nguyễn Hoàng N để N lên xưởng may còn V ngồi lại ăn cơm với Nguyễn Xuân A và Nguyễn Hoàng T. Sau khi ăn cơm xong, Bùi Trọng V đi bộ về phòng 109 đế nghỉ ngơi, dọc đường về thì N gọi điện cho V nói “ Tý em về phòng 109 mà nghỉ ngơi, không cần thuê thêm phòng khác nữa”. Khi về phòng, V đọn dẹp phòng thì phát hiện thấy một gói nilon chứa ma tuý đá được bọc bên ngoài bằng giấy vệ sinh để tại bàn uống nước giữa hai giường ngủ trong phòng và một chai nhựa ở nắp chai có gắn một cóng thuỷ tinh và một vòi hút nhựa đề ở dưới gầm giường ngủ. Sau đó, Bùi Trọng V mở vứt giấy vệ sinh đi rồi để gói ma túy tại bàn uống nước rồi đi tắm. Sau khí tắm xong thì V thấy Nguyễn Xuân A và Nguyễn Hoàng T đang nằm nghỉ trên giường tại phòng 109. Bùi Trọng V lấy chai nhựa, ở nắp chai có gắn một cóong thủy tinh và một vòi hút từ dưới gầm giường ra và lấy gói ma tuý đá để ở bàn uống nước bỏ thêm 1/2 viên ma tuý hồng phiến trong gói nilon màu vàng mà V cất ở trong túi quần bên phái đem cho vào cóong thuỷ tinh, dùng lửa đốt lên để sử dụng. Sau khi đun ma tuý xong thì Bùi Trọng V hút trước một hơi rồi đi vào trong nhà vệ sinh để đi vệ sinh, Nguyễn Hoàng T nhìn thấy ma tuý đã được đun sẵn trong cóong thuỷ tinh đặt giữa nền nhà nên Tiến xuống giường và ngồi hút ma tuý còn Nguyễn Xuân A vẫn nằm ở trên giường.
Khi Nguyễn Hoàng N lái xe taxi biển kiểm soát 37A - 316.88 đi làm thì N lấy hai gói ma túy đá gói lại bằng giấy màu trắng rồi cất giấu trong người, còn một gói giấy bạc bên trong hai viên ma tuý hồng phiến thì N cất giấu tại hốc cửa xe taxi bên ghế lái. Nguyễn Hoàng N điều khiển xe đi trên đường Hồ Chí Minh hướng về thị trần Nghĩa Đàn, huyện Nghĩa Đàn, khi đi đến đoạn đường thuộc xóm N Thắng, xã Nghĩa Long, huyện Nghĩa Đàn giáp ranh với thị xã Thái Hoà thị bị lực lượng Công an huyện Nghĩa Đàn kiểm tra bắt giữ. Lực lượng Công an thu giữ tại hốc cánh cửa bên lái xe taxi 37A - 316.88 do Nguyễn Hoàng N điều khiển một gói giấy bạc chứa bên trong hai viên ma tuý hồng phiến, thu giữ dưới mặt đường bên trái cách cánh cửa xe taxi của N khoảng 04 mét một gói ma túy được gói bằng giấy màu trắng bên trong có hai gói nilon chứa ma tuý đá mà Nguyễn Hoảng N ném ra đường khi thấy lực lượng Công an dừng xe để kiểm tra.
Cơ quan CSĐT Công an huyện Nghĩa Đàn tiến hành khám xét khẩn cấp địa điểm Nguyễn Hoàng N thuê nghỉ là phòng 109 thuộc “Trạm dừng chân số 9. Quá trình khám xét, Cơ quan CSĐT Công an huyện Nghĩa Đàn phát hiện, thu giữ tại kệ rửa mặt nhà vệ sinh phòng nghỉ 109 một gói nilon bên trong chứa trong chứa 3 viên hồng phiến; thu giữ 1/2 viên ma tuý hồng phiền ở cổng thoát nước nhà vệ sinh là số ma túy Bùi Trọng V cất giấu để sử dụng; một chai nhựa màu trắng dán mác AQUAFINA màu xanh, loại chai thể tích 500 ml, bên trong chai đựng nước lọc, chứa vòi nhựa nhiều màu sắc và một đoạn ống thuỷ tinh màu trong suốt, nắp chai màu đen có đục thủng 02 lỗ hình tròn.
Kết luận giám định số 658/KL-PC09 (Đ2MT) ngày 04/05/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận:
- 02 (Hai) mẫu các hạt tinh thể màu trong suốt (Ký hiệu M1A, M2A) và các viên nén, hình tròn, màu hồng (Ký hiệu M3A) thu giữ của Nguyễn Hoàng N gửi tới giam định đều là ma túy (Methamphetamine). Số các hạt tinh thể màu trong suốt (Hai gói) và hai viên dạng nén, hình tròn, màu hồng thu giữ của Nguyễn Hòang N có tổng khối lượng là 2,31 gam.
- Mẫu các hạt tinh thể màu trong suốt (Ký hiệu M4A) và mẫu dạng viên nén, hình tròn, màu hồng (Ký hiệu M5A) thu giữ tại phòng số 109 Trạm dừng chân số 9 gửi tới giám định đều là ma tuý (Methamphetamine). Số hạt tinh thể màu trong suốt (01 gói) và các viên dạng nén, hình tròn, màu hồng thu giữ tại phòng số 109 Trạm dừng chân số 9 có khối lượng là 0,5 gam.
Cáo trạng số 46/CT-VKSNgĐ ngày 02 tháng 08 năm 2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Đàn đã truy tố các bị cáo Nguyễn Hoàng N, Bùi Trọng V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện VKSND huyện Nghĩa Đàn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1 ( khoản 2 đối với Bùi Trọng V); điều 38 BLHS : xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng N từ 30 – 36 tháng tù. Xử phạt Bùi Trọng V từ 16 – 18 tháng tù. Tịch thu tiêu huỷ số ma tuý thu của các bị cáo.
Lời nói sau cùng của các bị cáo: các bị cáo đã nhận ra lỗi lầm của mình xin hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác,
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Nghĩa Đàn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Đàn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của những người làm chứng, vật chứng và các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập trong quá trình điều tra và được thẩm lại tại phiên tòa hôm nay. Từ đó xác định được: vào ngày 28/4/2021 Nguyễn Hoàng N đã mua của một người đàn ông tên An không rõ lai lịch địa chỉ tại khu vực trạm dừng chân số 9 thuộc xóm Sông Lim, xã Nghĩa L, huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An một gói ma túy đá trị giá 2.000.000 đồng và được người đàn ông cho thêm 06 viên hồng phiến. Sau khi mua được ma túy N chia thành 06 gói cất giấu trong người và trên xe ô tô 37A – 316.88. Quá trình Bùi Trọng V lái xe hộ cho N đã lấy 01 gói ma túy ở dưới sàn lót xe đưa về phòng 109 trạm dừng chân số 9 để sử dụng. Khi Nguyễn Hoàng N lái xe đi làm thì bị công an phát hiện và bắt giữ số ma túy mà Nguyễn Hoàng N tàng trữ là loại ma túy Methamphetamine có khối lượng là 2,31 gam. Khám xét phòng ở của Bùi Trọng V thu giữ 0,5 gam loại ma túy Methamphetamine là số ma túy V lấy từ xe ô tô của N để sử dụng. Như vậy Nguyễn Hoàng N tàng trữ tổng cộng là 2,81 gam. Bùi Trọng V tàng trữ 0,5 gam. Do vậy Hội đồng xét xử đủ căn cứ kết luận các bị cáo Nguyễn Hoàng N, Bùi Trọng V đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 BLHS.
Đây là vụ án do bị cáo Nguyễn Hoàng N, Bùi Trọng V thực hiện với lỗi cố ý đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách quản lý nhà nước về chất ma túy. Các bị cáo ý thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là bị pháp luật nghiêm cấm nhưng do bản chất ăn chơi đua đòi không biết kiềm chế làm chủ bản thân đã đẩy các bị cáo vào con đường phạm tội. Việc sử dụng, tàng trữ trái phép chất ma túy gây tác hại xấu đến sức khỏe, làm suy thoái đạo đức, phát sinh các tệ nạn xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa Ph. Do vậy cần phải xử lý nghiêm.
Xét vai trò tính chất mức độ của từng bị cáo trong vụ án này thì thấy rằng bị cáo Nguyễn Hoàng N là bị cáo đi mua ma túy về tàng trữ là bị cáo tàng trữ số lượng nhiều hơn bị cáo Bùi Trọng V nên phải chịu trách nhiệm đầu tiên trong vụ án sau đến bị cáo Bùi Trọng V.
Xét tình tiết tăng nặng: các bị cáo không có có tình tiết tăng nặng .
Xét tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bố, mẹ đẻ của bị cáo Bùi Trọng V có công với nước được tặng thưởng huân chương. Do vậy bị cáo N được hưởng tình tiết giảm nhẹ tại điểm s khoản 1 điều 51. Bị cáo Bùi Trọng V được hưởng tình tiết giảm nhẹ tại điểm s khoản 1 khoản 2 điều 51 BLHS.
Xét nhân thân: Bị cáo Bùi Trọng V có nhân thân tốt. Bị cáo Nguyễn Hoàng N đã hai lần bị Tòa án kết án đã được xóa án tích nhưng cũng xem xét nhân thân khi lượng hình.
Căn cứ vào quy định của Bộ luật Hình sự trên cơ sở cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội do hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra kết hợp với việc xem xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy cần thiết phải cách ly các bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian mới đủ điều kiện cải tạo, giáo dục các bị cáo thành người có ích cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo là đối tượng nghiện có hoàn cảnh khó khăn, thu nhập không ổn định nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đối với số ma túy thu của các bị cáo là vật cấm lưu hành, 01 chai nhựa màu trắng và một đoạn ống thủy tinh không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với người đàn ông bán ma túy cho Nguyễn Hoàng N chưa xác định được lai lịch, địa chỉ khi nào làm được rõ sẽ xử lý sau.
Về án phí: buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Hoàng N, Bùi Trọng V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điều 38 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng N 36 (ba mươi sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 28/04/2021.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, điều 38 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Bùi Trọng V 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 29/04/2021.
- Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 2 điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy02 phong bì thư bên trong có chứa ma túy số ma túy; 01 chai nhựa màu trắng có một đoạn ống thủy tinh có đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng vụ án ngày 03/08/2021 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Nghĩa Đàn và Chi cục Thi hành án huyện Nghĩa Đàn.
Về án phí: Áp dụng điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về Án phí, lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Nguyễn Hoàng N, Bùi Trọng V mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Văng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày ngày niêm yết bản án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND huyện; - Công an huyện; - Chi cục THADS huyện; - UBND cấp xã nơi b/c cư trú; - Sở Tư pháp; - TAND tỉnh; - Lưu hồ sơ vụ án. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Phan Sỹ Hùng Cao Thị Hằng | Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà Lê Viết Hà HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Viết Hà |