vanban.org

Bản án 39/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình Tuyên án 17/09/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1 Xử phạt bị cáo Trần Quốc L 18 (mười tám) tháng tù về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”

2 Tổng hợp của nhiều bản án: Tại bản án số: 49/2021/HSST ngày 29/6/2021 của Tòa án nhân dân huyện Kim Sơn, xử phạt 7 năm 6 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” cộng với 18 ( mười tám) tháng tù về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” của bản án này, buộc bị cáo phải chấp hành chung cho ha… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "hinh sự - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 1 Xử phạt bị cáo Trần Quốc L 18 (mười tám) tháng tù về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN YÊN MÔ
TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 39/2021/HS - ST
Ngày 17 - 9 - 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN MÔ, TỈNH NINH BÌNH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Ngọc Hà

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Xuân Cung;

2. Ông Nguyễn Văn Cử

Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Phạm Thị Minh Thư, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình tham gia phiên toà: Ông Lê Thanh Sơn - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 9 năm 2021, tại hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình, xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 41/2021/HSST ngày 26 tháng 8 năm 2021; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2021/QĐXXST – HS ngày 06 tháng 9 năm 2021, đối với bị cáo: Trần Quốc L, tên gọi khác không; giới tính Nam, sinh năm 1984 tại Ninh Bình; nơi cư trú: Xóm 10, xã H N, huyện K S, tỉnh N B; trình độ văn hóa 9/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; Dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên chúa giáo; Quốc tịch: Việt Nam; bố đẻ Trần Văn Đ, mẹ đẻ Bùi Thị S; Vợ: Phạm Thị C; con có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2006, con nhỏ nhất sinh năm 2017; Tiền án: Không; Tiền sự: Không. Nhân thân: Tại bản án số 18/2007/HSST ngày 29/6/2007 của TAND huyện Kim Sơn xử phạt 27 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, án phí HSST 50.000đồng, bị cáo chấp hành xong án phí ngày 23/9/2008, chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/9/2008; Tại bản án số 19/2017/HSST của TAND huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa, xử phạt 09 tháng tù về tội “đánh bạc”, án phí 200.000đồng. Ngày 19/9/2017 bị cáo kháng cáo, tại bản án số 223/2017/HSPT ngày 04/12/2017 của TAND tỉnh Thanh Hóa xử phạt 09 tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách 18 tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm. Bị cáo chấp hành xong ngày 04/6/2019. Tại bản án số 49/2021/HSST ngày 29/6/2021 của Tòa án nhân dân huyện Kim Sơn, xử phạt 7 năm 6 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” án phí 200.000đồng. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 09/01/2021, chuyển tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh Ninh Bình, trong vụ án “Mua bán trái phép chất ma túy”, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

+ Người làm chứng: Chị Phạm Thị C, anh Trần Văn G, ông Trần Văn Đ, anh Phạm Bách Th, bà Bùi Thị S (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Ngày 29/6/2021 Trần Quốc L được trích xuất đi xét xử đối với hành vi phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” tại Tòa án nhân dân huyện Kim sơn, tỉnh Ninh Bình. Sau khi xét xử xong vào khoảng 11 giờ cùng ngày, L được cán bộ Công an huyện Kim Sơn đưa từ phòng xét xử ra xe ô tô, để về trại tạm giam. Khi L đang bước từ bậc thềm phòng xét xử theo cầu thang đi xuống sân thì L nhìn thấy một người bạn L quen biết từ trước (L không nhớ tên, chỉ nhớ trú tại xã Cồn Thoi, huyện Kim Sơn) hất mặt về phía sân, hướng L đang đi, ra hiệu cho L. Thấy vậy, L nhìn về phía sân trước mặt thì thấy 01 gói giấy màu trắng dạng giấy tờ lịch kích thước (2x1,5x0,5) cm trên nền sân Tòa án. Hiểu ý của người này, đây là gói giấy có chứa ma túy bên trong nên khi đến gần vị trí gói giấy, lợi dụng lúc đông người đứng xung quang, cán bộ áp giải đang ngăn cản không cho người nhà tiếp xúc, L đưa bàn chân trái ra khỏi dép, dùng ngón giữa và ngón giáp ngón cái bàn chân trái kẹp lấy gói giấy rồi xỏ bàn chân vào dép như lúc đầu.

Hồi 11 giờ 40 phút ngày 29/6/2021 tại phòng trực trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình, trước khi cho Trần Quốc L nhập trại, cán bộ trại tạm giam tiến hành kiểm tra người đối với L. Quá trình kiểm tra phát hiện tại vị trí ngón giữa và ngón giáp ngón cái bàn chân trái của L kẹp 01 gói giấy. Tiến hành kiểm tra gói giấy phát hiện bên trong có chứa chấp bột dạng cục màu trắng, L khai nhận chất bột dạng cục mầu trắng đó là ma túy, L cất với giữ mục đích để mang vào buồng giam sử dụng cho bản thân. Ngay tại chỗ, cán bộ trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình đã tiến hành lập biên bản thu giữ, niêm phong vật chứng: Gồm gói giấy là loại giấy lịch kích thước (5x4) cm bên trong có chứa chất bột dạng cục màu trắng và lập biên bản phạm tội quả tang. Sau đó, trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình đã chuyển hồ sơ cho cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Mô để điểu tra xử lý theo thẩm quyền.

Ngày 30/6/2021 cơ quan CSĐT Công an huyện Yên Mô, ra quyết định trưng cầu phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình giám định chất ma túy đối với chất bột dạng cục màu trắng trong phong bì ký hiệu M thu giữ của Trần Quốc Liêm.Tại bản kết luận giám định số 526/KLGĐ-PC09-MT ngày 02/7/2021 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình kết luận:

Mẫu chất bột dạng cục màu trắng gửi giám định ký hiệu M có khối lượng 0,5748 gam, là ma túy, loại Heroine

Heroine là chất ma túy thuộc bảng Danh mục I, số thứ tự 9; Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15/05/2018 của Chính phủ.

Hoàn lại đối tượng giám định gồm: Chất dạng tinh thể màu trắng còn lại trong mẫu giám định ký hiệu M có khối lượng 0,5323 gam là ma túy, loại Heroine. Toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong.

Tại cơ quan điều tra Trần Quốc L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Tại bản cáo trạng số: 40/CT-VKS ngày 25 tháng 8 năm 2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mô đã truy tố bị can: Trần Quốc L theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:

+ Tuyên bố bị cáo Trần Quốc L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

+ Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Quốc L từ 18 đến 24 tháng tù .

+ Về tổng hợp hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 55; khoản 2 Điều 56 Bộ luật Hình sự: Tổng hợp của nhiều bản án, do bị cáo đang chấp hành hình phạt của bản án số: 49/2021/HSST ngày 29/6/2021 của Tòa án nhân dân huyện Kim Sơn, xử phạt 7 năm 6 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quyết định thi hành án số: 74/2021/QĐ – CA ngày 02/8/2021 của Chánh án Tòa án nhân dân huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình. Nên khi quyết định hình phạt của tội đang xét xử và quyết định hình phạt chung buộc bị cáo phải thi hành.

+ Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì giấy niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình số 526/KLGĐ – PC09 – MT trên mặt phong bì có ghi “Mẫu vật hoàn trả sau giám định: Trần Quốc L, SN 1984, xảy ra ngày 29/6/2021 tại Trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình. Mẫu vật hoàn trả gồm: M= 0,5323 gam ma túy, loại Heroine, toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong” mặt sau phong bì có chữ ký giáp lai của ông Đinh Văn Dũng, Phạm Minh Tuyến và 03 dấu tròn đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình; 01 phong bì giấy của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Mô, trên mặt phong bì có ghi “ Vỏ bao gói niêm phong vật chứng thu giữ của Trần Quốc Liêm ngày 29/6/2021 tại phòng trực trại – Trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình” mặt sau phong bì có chữ ký giáp lai của ông Đinh Văn Dũng, Lê Ngọc Hùng, Trần Quốc L, Phạm Minh Đức, Lê Thanh Sơn, Vũ Ngọc Cường, Hà Mạnh Linh, Đinh Văn Thiện và 03 dấu tròn đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Mô.

+ Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án. Buộc bị cáo Trần Quốc L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy của mình như đã nêu trên, bị cáo cũng thừa nhận việc bị truy tố, xét xử là đúng người, đúng tội và nói lời sau cùng đề nghị được hưởng mức án thấp nhất.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về hành vi, quyết định tố tụng: Công an Trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình; Cơ quan điều tra Công an huyện Yên Mô, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mô, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Về hành vi của bị cáo: Lời khai của bị cáo là phù hợp với nội dung diễn biến sự việc; phù hợp với kết luận giám định, vật chứng đã thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 11 giờ 40 phút ngày 29/6/2021 tại Trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình, đóng trên địa bàn xóm 3, xã Mai Sơn, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình. Trần Quốc L đã có hành vi cất giấu trái phép trong người 0,5748 gam ma túy, loại Heroine, nhằm mục đích để sử dụng, thì bị cán bộ Trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình phát hiện bắt quả tang.

Hành vi cất giữ ma túy trên người của bị cáo thực hiện đã phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và thuộc điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự Hành vi phạm tội của bị cáo do cố ý và nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của nhà nước đối với chất ma túy, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trị an ở địa phương, ảnh hưởng đến sức khỏe và sự phát triển giống nòi của dân tộc. Vì vậy việc đưa ra xét xử nhằm tuyên truyền về tác hại của ma túy, để mọi người hiểu tác hại của ma túy, từ ma túy là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác.

Điều 249: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy.

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a)...

.......

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân:

+ Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

+ Về tình tiết giảm nhẹ quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

+ Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân xấu, bản án số 18/2007/ HSST ngày 29/6/2007 của TAND huyện Kim Sơn xử phạt 27 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, án phí HSST 50.000đồng, bị cáo chấp hành xong án phí ngày 23/9/2008, chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/9/2008; Tại bản án số 19/2017/HSST của TAND huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 09 tháng tù về tội “đánh bạc” án phí 200.000đồng. Ngày 19/9/2017 bị cáo kháng cáo, tại bản án số 223/2017/HSPT ngày 04/12/2017 của TAND tỉnh Thanh Hóa xử phạt 09 tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách 18 tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm. Bị cáo chấp hành xong ngày 04/6/2019. Tại bản án số 49/2021/HSST ngày 29/6/2021 của Tòa án nhân dân huyện Kim Sơn, xử phạt 7 năm 6 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” án phí 200.000đồng.

Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng giảm nhẹ như đã phân tích ở trên. Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng loại hình phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để bị cáo chịu sự giám sát, giáo dục của Nhà nước, có như vậy mới giúp bị cáo nhận ra lỗi lầm của mình để sửa chữa trở thành công dân tốt có ích cho gia đình và xã hội.

Về tổng hợp hình phạt: Tổng hợp của nhiều bản án, do bị cáo đang chấp hành hình phạt của bản án số: 49/2021/HSST ngày 29/6/2021 của Tòa án nhân dân huyện Kim Sơn, xử phạt 7 năm 6 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quyết định thi hành án số: 74/2021/QĐ – CA ngày 02/8/2021 của Chánh án Tòa án nhân dân huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình. Nên khi quyết định hình phạt của tội đang xét xử và quyết định hình phạt chung buộc bị cáo phải thi hành theo quy định tại Điều 55, Điều 56 Bộ luật Hình sự.

Về nguồn gốc ma túy: Trần Quốc L khai được một người bạn quen biết từ trước để sẵn trên sân của Tòa án nhân dân huyện Kim Sơn, ra hiệu cho bị cáo biết để lấy cất giữ trong người. Quá trình điều tra bị cáo khai không biết cụ thể tên, tuổi, địa chỉ của người này, do vậy Cơ quan CSĐT công an huyện Yên Mô không có cơ sở để điều tra xử lý.

Về xử lý vật chứng và tài sản tạm giữ:

+ Đối với số ma túy còn lại cùng vỏ phong bì số 526 mẫu vật hoàn lại bên trong có khối lượng 0,5323gam ma túy cùng toàn bộ vỏ gói; và 01 phong bì giấy của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Mô, trên mặt phong bì có ghi “ Vỏ bao gói niêm phong vật chứng thu giữ của Trần Quốc L ngày 29/6/2021 tại phòng trực trại – Trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình” Là vật chứng liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo cần tịch thu tiêu hủy.

Về án phí. Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm c khoản 1 Điều 47; Điều 55; Điều 56 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106; Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án 1. Tuyên bố bị cáo: Trần Quốc L phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

1.1 Xử phạt bị cáo Trần Quốc L 18 (mười tám) tháng tù về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”

1.2 Tổng hợp của nhiều bản án: Tại bản án số: 49/2021/HSST ngày 29/6/2021 của Tòa án nhân dân huyện Kim Sơn, xử phạt 7 năm 6 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” cộng với 18 ( mười tám) tháng tù về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” của bản án này, buộc bị cáo phải chấp hành chung cho hai bản án là: 09 ( chín) năm tù, thời gian phạt tù tính từ ngày tạm giữ ngày 09 tháng 01 năm 2021. 2. Về xử lý vật chứng và tài sản tạm giữ:

+ Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì giấy niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình số 526/KLGĐ – PC09 – MT trên mặt phong bì có ghi “Mẫu vật hoàn trả sau giám định: Trần Quốc L, SN 1984, xảy ra ngày 29/6/2021 tại Trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình. Mẫu vật hoàn trả gồm: M= 0,5323 gam ma túy, loại Heroin, toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong” mặt sau phong bì có chữ ký giáp lai của ông Đinh Văn Dũng, Phạm Minh Tuyến và 03 dấu tròn đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình; 01 phong bì giấy của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Mô, trên mặt phong bì có ghi “ Vỏ bao gói niêm phong vật chứng thu giữ của Trần Quốc L ngày 29/6/2021 tại phòng trực trại – Trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình” mặt sau phong bì có chữ ký giáp lai của ông Đinh Văn Dũng, Lê Ngọc Hùng, Trần Quốc Liêm, Phạm Minh Đức, Lê Thanh Sơn, Vũ Ngọc Cường, Hà Mạnh Linh, Đinh Văn Thiện và 03 dấu tròn đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Mô.

Chi tiết các vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/8/2021 giữa Công an huyện Yên Mô và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Mô. 3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm báo để bị cáo biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ