vanban.org

Bản án 39/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn Tuyên án 19/05/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Sang Q và bị cáo Hoàng Thanh T1 (tên gọi khác: S) phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Hoàng Sang Q 08 (tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ là ngày 27/11/2020. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Sang Q, Hoàng Thanh T1 mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số đ…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Sang Q và bị cáo Hoàng Thanh T1 (tên gọi khác: S) phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĂN LÃNG
TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 39/2021/HS-ST
Ngày 19-5-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÃNG, TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Liễu Thị Hạnh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Hợp;

Bà Lương Thị Phượng.

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Hồng Phương - Thư ký Toà án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên toà: Ông Nông Văn Thắng - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 5 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 26/2021/TLST-HS ngày 07 tháng 4 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2021/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 4 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 12/2021/HSST-QĐ ngày 11 tháng 5 năm 2021, đối với các bị cáo:

1. Hoàng Sang Q (tên gọi khác: Không có); sinh ngày 12 tháng 7 năm 1993 tại huyện V1, tỉnh Lạng Sơn; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn L1, xã B1, huyện V1, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn T1 và bà Đinh Thị L2; có vợ là Nông Thị N1 và có 01 con sinh năm 2014; tiền án: Không có; tiền sự: Không có; nhân thân: Chưa bị kết án, chưa bị xử lý vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật; bị bắt tạm giữ từ ngày 27/11/2020, tạm giam từ ngày 30/11/2020 đến nay. Có mặt.

2. Hoàng Thanh T2 (tên gọi khác: S); sinh ngày 12 tháng 01 năm 1992 tại huyện V1, tỉnh Lạng Sơn; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Khu *, thị trấn N2, huyện V1, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Không rõ và bà Hoàng Thị H1; vợ, con: Chưa có; tiền án: Không có; tiền sự: Không có; nhân thân: Tại Bản án số 68/2011/HSST ngày 28/9/2011 Tòa án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng, bị cáo đã chấp hành xong, đã được xóa án tích; tại Quyết định số 10/QĐ-TA ngày 15/12/2014 Tòa án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn đã áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 24 tháng, tháng 3/2017 bị cáo chấp hành xong, đã được xóa tiền sự; bị bắt tạm giữ từ ngày 27/11/2020, tạm giam từ ngày 30/11/2020 đến nay. Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Hoàng Sang Q: Ông Hoàng Văn L2 – Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Lạng Sơn. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Chị Mông Thị N3, sinh năm 1997. Nơi cư trú: Thôn N4, xã H2, huyện V1, tỉnh Lạng Sơn. Có mặt.

2. Anh Nông Văn T3, sinh năm 1992. Nơi cư trú: Thôn N4, xã H2, huyện V1, tỉnh Lạng Sơn. Có mặt.

3. Anh Lý Xuân T4, sinh năm 2000. Địa chỉ: Thôn V2, xã B1, huyện V1, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt.

- Người làm chứng:

1. Anh Lăng Văn T5. Vắng mặt.

2. Anh Lô Văn T6. Vắng mặt.

3. Anh Mông Văn H3. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Từ đầu tháng 11/2020, Hoàng Sang Q nhiều lần đi ra khu vực thôn H4, xã T7, huyện V1, tỉnh Lạng Sơn, mua ma túy với một người đàn ông (không biết họ, tên, địa chỉ) hoặc một người phụ nữ (không biết họ, tên, địa chỉ) về chia nhỏ để bán cho những người nghiện để kiếm lời.

Tại thôn T8, thị trấn N2, huyện V1, tỉnh Lạng Sơn, Hoàng Sang Q đã nhiều lần bán ma túy cho Hoàng Thanh T1, nhưng chỉ nhớ 02 lần gần đây nhất là ngày 20/11/2020 bán 01 gói với giá 100.000 đồng và ngày 23/11/2020 bán 01 gói với giá 100.000 đồng.

Tại khu vực đầu cầu gần Trường Trung học cơ sở thị trấn N2, huyện V1, tỉnh Lạng Sơn, Hoàng Sang Q đã bán ma túy cho Lý Xuân T4 (trú tại thôn V2, xã B1, huyện V1, tỉnh Lạng Sơn) 03 lần, cụ thể: Khoảng 14 giờ ngày 24/11/2020 bán 01 gói giá 100.000 đồng; khoảng 09 giờ ngày 25/11/2020 bán 01 gói giá 100.000 đồng, khoảng 14 giờ ngày 26/11/2020 bán 01 gói giá 100.000 đồng.

Tại khu vực đồi đằng sau cây xăng thuộc thôn T8, thị trấn N2, huyện V1, tỉnh Lạng Sơn, Hoàng Sang Q đã bán ma túy cho Mông Văn H3 (trú tại thôn B2, xã T9, huyện V1, tỉnh Lạng Sơn) 02 lần, cụ thể vào khoảng 08 giờ ngày 25/11/2020 bán 01 gói với giá 100.000 đồng và khoảng 23 giờ ngày 25/11/2020 bán 02 gói được 200.000 đồng.

Ngoài ra Hoàng Sang Q còn bán cho nhiều người nghiện khác nhưng không biết họ tên, địa chỉ.

Ngày 20/11/2020, Hoàng Sang Q đặt vấn đề thuê Hoàng Thanh T1 bán ma túy, thỏa thuận cứ bán được từ 10 gói đến 20 gói ma túy thì sẽ trả công từ 01 gói đến 02 gói ma túy để sử dụng. Hoàng Thanh T1 đồng ý. Từ ngày 26/11/2020 đến ngày 27/11/2020, Hoàng Sang Q đưa ma túy cho Hoàng Thanh T1 bán, tổng cộng là 03 lần. Lần 1: Ngày 26/11/2020 đưa 25 gói; Hoàng Thanh T1 đã bán 21 gói được 2.100.000 đồng và sử dụng 04 gói. Lần 2: Khoảng 7 giờ ngày 27/11/2020 đưa 10 gói, Hoàng Thanh T1 đã bán 9 gói được 850.000đ và sử dụng 01 gói; địa điểm bán thuộc thôn T8, thị trấn N2, huyện V1, tỉnh Lạng Sơn. Số tiền bán ma túy được 2.950.000 đồng, Hoàng Thanh T1 đã đưa cho Hoàng Sang Q. Hoàng Thanh T1 khai nhận đã bán ma túy cho nhiều người nhưng chỉ nhớ bán cho những người sau:

- Bán cho Lăng Văn T5 (trú tại thôn P, xã T10, huyện V1, tỉnh Lạng Sơn) 02 lần, cụ thể vào khoảng 15 giờ ngày 26/11/2020 bán 01 gói với giá 100.000 đồng và khoảng 08 giờ ngày 27/11/2020, bán 01 gói giá 100.000 đồng.

- Bán cho Lô Văn T6 (trú tại thôn N3, xã T11, huyện V1, tỉnh Lạng Sơn) nhiều lần, nhưng chỉ nhớ khoảng 07 giờ 30 phút, ngày 27/11/2020 bán 01 gói với giá 100.000 đồng.

- Bán cho Mông Văn H3 (trú tại thôn B2, xã T9, huyện V1, tỉnh Lạng Sơn) 02 lần, cụ thể khoảng 11 giờ ngày 26/11/2020 bán 01 gói với giá 100.000 đồng và khoảng 08 giờ ngày 27/11/2020 bán 01 gói giá 100.000 đồng.

Khoảng 10 giờ ngày 27/11/2020, Hoàng Sang Q, một mình điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 12V1-134.11 đi từ thôn T8, thị trấn N2, huyện V1, tỉnh Lạng Sơn đến khu vực thôn H4, xã T7, huyện V1, tỉnh Lạng Sơn mục đích tìm mua ma túy về sử dụng và bán kiếm lời. Đến nơi, Hoàng Sang Q gặp và mua 2.000.000 (hai triệu) đồng tiền ma túy với một người phụ nữ (không biết họ tên, địa chỉ) được một cục ma túy đựng trong túi ni lon màu trắng. Hoàng Sang Q cầm gói ma túy đi về khu vực đồi K thuộc thôn T8, thị trấn N2, huyện V1, tỉnh Lạng Sơn chia nhỏ được 36 gói nhựa ma túy. Hoàng Sang Q chia 25 gói ma túy vào trong 01 túi nilon màu trắng, còn 11 gói ma túy để vào một túi khác để dưới một bát hương, cạnh ngôi mộ trên đồi K rồi gọi điện thoại cho Hoàng Thanh T1 lên lấy ma túy để bán. Khoảng 10 phút sau, Hoàng Thanh T1 đến, Hoàng Sang Q đưa cho Hoàng Thanh T1 01 túi nilon màu trắng chứa 25 gói nhựa ma túy và bảo Hoàng Thanh T1 bán với giá 100.000đồng/01gói. Hoàng Thanh T1 đồng ý, cầm lấy gói ma túy đi bộ về phía thôn T8, trong khi chờ những người nghiện đến mua ma túy Hoàng Thanh T1 đã sử dụng hết 01 gói. Khoảng 15 giờ cùng ngày, Hoàng Sang Q điều khiển xe mô tô đi đến thôn T8 để xem Hoàng Thanh T1 bán ma túy thì thấy có Lăng Văn T5, Lô Văn T6 và Lý Xuân T4 đang ở đó. Cùng lúc đó, Tổ công tác Công an huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn làm nhiệm vụ tại khu vực thôn T8, thị trấn N2, huyện V1, tỉnh Lạng Sơn đến yêu cầu kiểm tra, Hoàng Thanh T1 tự giác giao nộp 01 túi nilon màu trắng bên trong có chứa 24 (hai mươi tư) gói ma túy, đồng thời Hoàng Sang Q khai nhận đó là số ma túy Hoàng Sang Q đưa cho Hoàng Thanh T1 bán và đưa tổ công tác đến thu giữ 11 (mười một) gói ma túy mà Hoàng Sang Q cất giấu. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang theo quy định.

Tổ công tác đã thu giữ của Hoàng Thanh T1: 01 (một) túi nilon màu trắng bên trong có chứa 24 (hai mươi tư) gói nhựa màu trắng bên trong mỗi gói đều chứa chất bột màu trắng nghi là chất ma túy, được niêm phong trong một phong bì thư ký hiệu bằng chữ viết tay “QT HOÀNG THANH T1”; thu giữ của Hoàng Sang Q 01 (một) túi nilon màu trắng bên trong có chứa 11 (mười một) gói nhựa màu trắng, bên trong mỗi gói nhựa đều chứa chất bột màu trắng nghi là chất ma túy, được niêm phong trong một phong bì thư ký hiệu bằng chữ viết tay “QT HOÀNG SANG Q”.

Tạm giữ của Hoàng Thanh T1: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Masstel màu đen trắng, đã qua sử dụng, bên trong lắp 01 (một) sim Vinaphone.

Tạm giữ của Hoàng Sang Q: Số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A9 2020 màu xanh đen, đã qua sử dụng, bên trong lắp 01 (một) sim VIETTEL; 01 (một) chiếc kéo bằng kim loại dài khoảng 13cm, cán bằng nhựa màu vàng đen; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA WINNER biển kiểm soát 12V1-134.**, đã qua sử dụng.

Tạm giữ của Lý Xuân T4: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG GALAXY A20s màu xanh đen, đã qua sử dụng, bên trong lắp 01 (một) sim Viettel.

Ngày 01/3/2021, chị Mông Thị N3 giao nộp giấy đăng ký xe mô tô, xe máy số 00951* do Công an huyện V1, tỉnh Lạng Sơn cấp ngày 24/01/2019.

Tại Kết luận giám định số 13/KL-PC09, ngày 29/11/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận:

“1. Mẫu vật có trong phong bì ghi chữ “QT HOÀNG THANH T1”:

Chất bột màu trắng đều là chất ma túy Heroine, có tổng khối lượng 1,049 gam (đã trừ bì).

2. Mẫu vật có trong phong bì ghi chữ “QT HOÀNG SANG Q”:

Chất bột màu trắng đều là chất ma túy Heroine, có tổng khối lượng 0,451 gam (đã trừ bì)”.

Tại Kết luận giám định số 35/KLGĐ-PC09 ngày 21/12/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận: “Toàn bộ số tiền Việt Nam được niêm phong trong phong bì gửi giám định đều là tiền thật”.

Tại Cáo trạng số 31/CT-VKS ngày 06/4/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Hoàng Sang Q và bị cáo Hoàng Thanh T1 về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Tại Cơ quan điều tra, Lý Xuân T4, Lô Văn T6, Lăng Văn T5, Mông Văn H3 đều khai được nhiều lần mua ma túy với Hoàng Thanh T1, Hoàng Sang Q, giá mỗi gói ma túy là 100.000 (một trăm nghìn) đồng như đã nêu ở trên. Lý Xuân T4 trình bày chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG GALAXY A20s là của Lý Xuân T4 và đề nghị xin lại chiếc điện thoại.

Chị Mông Thị N3 và anh Nông Văn T3 trình bày: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA WINNER biển kiểm soát 12V1-134.** là của anh, chị; Hoàng Sang Q có quan hệ họ hàng với anh, chị; chị Mông Thị N3 cho Hoàng Sang Q mượn xe để đi lại; anh, chị không biết Hoàng Sang Q sử dụng xe để đi mua bán ma túy; anh, chị đề nghị xin lại chiếc xe để sử dụng.

Tại phiên tòa:

Các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của bản thân như nội dung cáo trạng đã truy tố và đều thừa nhận bản thân đã nhiều lần thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy và biết là vi phạm pháp luật. Bị cáo Hoàng Sang Q khai nhận, số tiền do bán ma túy mà có, bị cáo đã bỏ ra 2.000.000 đồng để mua ma túy ngày 27/11/2021, số còn lại bị cáo chi tiêu cá nhân và khi bị bắt còn 300.000 đồng đã bị tạm giữ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo Hoàng Sang Q và Hoàng Thanh T1 phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy; áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251, Điều 17, Điều 38, Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Hoàng Sang Q từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù; xử phạt bị cáo Hoàng Thanh T1 từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù; đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo. Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định, toàn bộ các vỏ bao gói; 01 (một) chiếc kéo bằng kim loại dài khoảng 13cm, cán bằng nhựa màu vàng đen; tịch thu nộp vào Ngân sách nhà nước số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO bên trong có gắn 01 (một) sim của Hoàng Sang Q, 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Masstel bên trong có gắn 01 (một) sim của Hoàng Thanh T1. Trả lại cho Lý Xuân T4 01 (một) điện thoại nhãn hiệu SAMSUNG bên trong lắp 01 (một) sim VIETTEL. Trả lại cho chị Mông Thị N3 và anh Nông Văn T3 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA WINNER biển kiểm soát 12V1-134.** đã qua sử dụng và giấy đăng ký xe. Truy thu đối với Hoàng Sang Q số tiền 1.450.000 đồng do bán ma túy mà có.

Người bào chữa cho bị cáo Hoàng Sang Q nhất trí với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng, hình phạt và xử lý vật chứng. Bị cáo Hoàng Sang Q thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng đặc biệt khó khăn nhận thức có phần hạn chế, đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo; đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cân nhắc xử phạt bị cáo Hoàng Sang Q mức án từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù là phù hợp.

Đại diện Viện Kiểm sát không nhất trí với đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo; bị cáo có trình độ văn hóa 12/12, nhận thức rõ hành vi mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn thực hiện.

Bị cáo Hoàng Sang Q nhất trí với ý kiến của người bào chữa cho bị cáo và không có ý kiến tranh luận, bị cáo Hoàng Thanh T1, anh Nông Văn T3 và chị Mông Thị N3 không có ý kiến tranh luận. Tại lời nói sau cùng, các bị cáo rất hối hận và xin được giảm nhẹ hình phạt để sớm được trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của những người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Người bào chữa đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.

Việc vắng mặt của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Lý Xuân T4 tại phiên tòa: Anh Lý Xuân T4 đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai, đã có lời khai trong hồ sơ; căn cứ theo khoản 1 Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.

Về hành vi của các bị cáo: Từ đầu tháng 11/2020 đến ngày 27/11/2020 Hoàng Sang Q đã nhiều lần mua ma túy đem về chia nhỏ để bán cho những người nghiện kiếm lời. Hoàng Sang Q đã bán ma túy cho Hoàng Thanh T1 02 lần mỗi lần 01 gói, bán cho Mông Văn H3 02 lần (lần 01 bán 01 gói và lần 02 bán 02 gói), bán cho Lý Xuân T4 03 lần mỗi lần 01 gói, với giá mỗi gói là 100.000 (một trăm nghìn) đồng. Ngoài ra, Hoàng Sang Q còn thỏa thuận thuê Hoàng Thanh T1 bán ma túy và trả công bằng ma túy sử dụng, Hoàng Sang Q đã 03 lần đưa ma túy với tổng số 60 gói cho Hoàng Thanh T1 để bán. Hoàng Thanh T1 đã sử dụng 6 gói và đã bán 30 gói thu được với tổng số tiền 2.950.000 (hai triệu chín trăm năm mươi nghìn) đồng còn 24 (hai mươi tư) gói chưa bán được thì bị bắt quả tang. Hoàng Thanh T1 đã bán ma túy nhiều lần, cụ thể bán cho Lăng Văn T5 02 lần, bán cho Lô Văn T6 nhiều lần nhưng chỉ nhớ 01 lần và Mông Văn H3 02 lần, mỗi lần bán một gói với giá 100.000 (một trăm nghìn) đồng. Ngày 27/11/2020 Hoàng Sang Q đưa ma túy cho Hoàng Thanh T1 bán, trong khi đang chờ người đến mua thì bị bắt quả tang, thu giữ của Hoàng Thanh T1 24 gói ma túy Heroine có khối lượng là 1,049 gam (đã trừ bì); thu giữ của Hoàng Sang Q 11 gói ma túy Heroine có khối lượng là 0,451 gam (đã trừ bì)” (tổng khối lượng ma túy bị thu giữ là 1,5 gam Heroine). Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp nhau và phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người người làm chứng, phù hợp với vật chứng đã thu giữ được, Kết luận giám định của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi đã thực hiện là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Hoàng Sang Q và bị cáo Hoàng Thanh T1 phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Đây là vụ án đồng phạm có tính chất giản đơn do các bị cáo cùng cố ý thực hiện một tội phạm. Bị cáo Hoàng Sang Q có vai trò chính trong vụ án, là người chuẩn bị tiền, trực tiếp đi mua ma túy về chia nhỏ và bán kiếm lời, ngoài ra Hoàng Sang Q còn thuê Hoàng Thanh T1 bán ma túy để trả công bằng ma túy để sử dụng. Bị cáo Hoàng Thanh T1 là người giúp sức tích cực cho Hoàng Sang Q trong việc bán ma túy và thực tế đã bán được 30 gói và được trả công 06 gói còn lại 24 gói chưa kịp bán thì bị bắt. Như vậy xét vai trò của Hoàng Sang Q cao hơn.

Xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội thấy rằng: Hành vi mà các bị cáo thực hiện là rất nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự an toàn xã hội, là nguyên nhân gián tiếp gây ra tệ nạn xã hội và các tội phạm khác. Các bị cáo nhận thức rõ tác hại của ma túy đối với bản thân và xã hội, nhưng chỉ vì để kiếm lời và có ma túy cho bản thân sử dụng, các bị cáo đã bất chấp pháp luật và dư luận xã hội để thực hiện hành vi phạm tội.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về nhân thân: Bị cáo Hoàng Sang Q chưa có tiền án, tiền sự, có nhân thân tốt; bị cáo Hoàng Thanh T1 đã từng bị kết án, đã bị áp dụng biện biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, cho thấy bị cáo có nhân thân xấu.

Trên cơ sở đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết xử phạt cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục và phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Theo biên bản xác minh ngày 22/02/2021 và ngày 24/02/2021 của Cơ quan điều tra và qua xét hỏi công khai tại phiên tòa sơ thẩm thấy rằng: Các bị cáo không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng có giá trị, bản thân nghiện ma túy, vì vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp; tịch thu tiêu hủy: Khối lượng ma túy còn lại sau giám định được niêm phong trong hai phong bì thư và toàn bộ các vỏ bao gói, 01 (một) chiếc kéo bằng kim loại dài khoảng 13cm, cán bằng nhựa màu vàng đen (bị cáo Hoàng Sang Q dùng để chia nhỏ số ma túy để bán và sử dụng) là vật dùng vào việc phạm tội, vật nhà nước cấm tàng trữ lưu hành và vật không sử dụng được. Tịch thu nộp Ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Masstel màu đen trắng, đã qua sử dụng, bên trong có 01 (một) sim Vinaphone của bị cáo Hoàng Thanh T1: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A9 2020 màu xanh đen, đã qua sử dụng, bên trong lắp 01 (một) sim VIETTEL của bị cáo Hoàng Sang Q, các bị cáo dùng liên lạc với nhau để mua bán ma túy và số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng của Hoàng Sang Q do bán ma túy mà có. Truy thu số tiền 1.450.000 (một triệu bốn trăm năm mươi nghìn) đồng đối với bị cáo Hoàng Sang Q do bán ma túy mà có để nộp vào ngân sách Nhà nước (gồm 800.000 đồng bán ma túy cho Hoàng Thanh T1, Mông Văn H3, Lý Xuân T4 và 950.000 đồng trong số tiền bán ma túy Hoàng Thanh T1 đưa cho Hoàng Sang Q trừ đi 2.000.000 đồng đã mua ma túy ngày 27/11/2021 và trừ đi số tiền 300.000 đồng đã thu giữ được). Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA WINNER biển kiểm soát 12V1-134.** đã qua sử dụng và 01 (một) giấy đăng ký mô tô, xe máy, quá trình điều tra xác định là tài sản của chị Mông Thị N3 và anh Nông Văn T3; anh, chị không biết bị cáo sử dụng xe vào việc phạm tội nên trả lại cho chị Mông Thị N3 và anh Nông Văn T3. Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG GALAXY A20s là của anh Lý Xuân T4, không sử dụng vào việc thực hiện tội phạm, do đó cần trả lại cho anh Lý Xuân T4.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn và ý kiến của người bào chữa cho bị cáo về tội danh, hình phạt và xử lý vật chứng phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Đối với đề nghị của người bào chữa cho bị cáo đề nghị áp dụng Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Hoàng Sang Q xét thấy: Bản thân bị cáo Hoàng Sang Q có trình độ văn hóa 12/12, nhận thức rõ hành vi bị cáo thực hiện là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, do đó không có căn cứ chấp nhận.

Đối với người đàn ông và người phụ nữ bán ma túy cho bị cáo Hoàng Sang Q, do bị cáo không biết họ, tên, địa chỉ, cơ quan điều tra không làm rõ được nên không có căn cứ xử lý trong vụ án này.

Đối với Lăng Văn T5, Mông Văn H3, Lô Văn T6, Lý Xuân T4 là những người đã mua ma túy với các bị cáo để sử dụng, Cơ quan điều tra không thu giữ được số ma túy nên không có cơ sở để xử lý; Cơ quan điều tra đã chuyển thông tin đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú để quản lý theo quy định.

Về án phí và quyền kháng cáo: Các bị cáo là người bị kết án phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm để nộp vào ngân sách Nhà nước. Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án, quyết định có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án, quyết định có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ, trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 251, Điều 17, Điều 38, điểm a khoản 1 Điều 46, khoản 1 Điều 47, Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Căn cứ vào khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Sang Q và bị cáo Hoàng Thanh T1 (tên gọi khác: S) phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.

2. Về hình phạt:

Xử phạt bị cáo Hoàng Sang Q 08 (tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ là ngày 27/11/2020.

Xử phạt bị cáo Hoàng Thanh T1 (tên gọi khác: S) 07 (bẩy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ là ngày 27/11/2020.

3. Về biện pháp tư pháp: Truy thu đối với bị cáo Hoàng Sang Q số tiền 1.450.000 (một triệu bốn trăm năm mươi nghìn) đồng để nộp vào ngân sách Nhà nước.

4. Về xử lý vật chứng:

4.1. Tịch thu tiêu hủy:

- Khối lượng ma túy còn lại sau giám định (0,977 gam Heroine) được niêm phong trong 01 (một) phong bì thư ký hiệu bằng chữ viết tay “QT HOÀNG THANH T1” và toàn bộ các vỏ bao gói.

- Khối lượng ma túy còn lại sau giám định (0,381 gam Heroine) được niêm phong trong 01 (một) phong bì thư ký hiệu bằng chữ viết tay “QT HOÀNG SANG Q” và toàn bộ các vỏ bao gói.

- 01 (một) chiếc kéo bằng kim loại dài khoảng 13cm, cán bằng nhựa màu vàng đen, của Hoàng Sang Q.

4.2. Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước:

- Số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng đã tạm giữ của Hoàng Sang Q, được niêm phong trong 01 (một) phong bì thư ký hiệu bằng chữ viết tay “Tiền Hoàng Sang Q”;

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Masstel màu đen trắng, đã qua sử dụng, bên trong lắp 01 (một) sim Vinaphone, tạm giữ của Hoàng Thanh T1 (tên gọi khác: S);

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A9 2020, màu xanh đen, đã qua sử dụng, bên trong lắp 01 (một) sim VIETTEL, tạm giữ của Hoàng Sang Q.

4.3. Trả lại cho chị Mông Thị N3 và anh Nông Văn T3: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA WINNER biển kiểm soát 12V1-134.** đã qua sử dụng; 01 (một) giấy đăng ký xe mô tô, xe máy số 0095** do Công an huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn cấp ngày 24/01/2019.

4.4. Trả lại cho anh Lý Xuân T4 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG GALAXY A20s màu xanh đen, đã qua sử dụng, bên trong lắp 01 (một) sim VIETTEL.

(Vật chứng đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện V1, tỉnh Lạng Sơn theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 09/4/2021).

5. Về án phí: Bị cáo Hoàng Sang Q và bị cáo Hoàng Thanh T1 (tên gọi khác: S), mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm để nộp vào ngân sách Nhà nước.

6. Quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án, quyết định có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ, trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án, quyết định có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ, trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ