vanban.org

Bản án 39/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 04/10/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Hoàng Quốc T phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt bị cáo Lê Hoàng Quốc T 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Hoàng Quốc T phạm tội “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LAI VUNG
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 39/2021/HS-ST
Ngày: 04-10-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LAI VUNG, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Út.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Phát Triển;

Ông Đặng Văn Hai.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Vinh là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Chính - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 10 năm 2021, tại Phòng xử án của Tòa án nhân dân huyện Lai Vung xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 40/2021/TLST-HS, ngày 25 tháng6 năm 2021; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2021/QĐXXST-HS, ngày 30 tháng 6 năm 2021; Quyết định hoãn phiên tòa số: 178/2021/HSST-QĐ, ngày 26 tháng 7 năm 2021; Quyết định hoãn phiên tòa số: 203/2021/HSST-QĐ, ngày 25 tháng 8 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 243/2021/HSST-QĐ, ngày 17 tháng 9 năm 2021 đối với bị cáo:

Lê Hoàng Quốc T, sinh năm: 1978, tại Đồng Tháp; nơi cư trú: 224/1, ấp Đ M, xã Đ H, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn C và bà Đỗ Thị N T; có vợ (đã ly hôn) và 01 người con; tiền án; Ngày 01/11/2019, bị Tòa án nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp tuyên phạt 06 tháng tù về tội “Đánh bạc”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/7/2020, chưa được xóa án tích; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 09/9/2008, bị Tòa án nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp tuyên phạt 03 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”, đã xóa án tích, ngày 23/5/2014, bị Tòa án nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp tuyên phạt 02 năm 06 tháng tù về các tội “Hủy hoại tài sản” và tội “Chống người thi hành công vụ”, đã xóa án tích, ngày 05/7/2018, bị Công an huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc, đã hết thời hạn được coi là bị xử phạt vi phạm hành chính; Không bị bắt tạm giữ tạm giam; bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo đang tại ngoại tại: 224/1, ấp Đ M, xã Đ H, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Trần Qui N - sinh năm: 1978. (vắng mặt); Nơi cư trú: 157A/1, ấp Đ M, xã Đ H, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.

2. Mai Văn M - sinh năm: 1987. (vắng mặt); Nơi cư trú: 87/3, ấp T T, xã P H, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.

- Người làm chứng:

1. Lương Văn D - sinh năm: 1979. (vắng mặt); Nơi cư trú: 229/5, ấp L A, xã L T, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.

2. Đoàn Thị Đ - sinh năm: 1958. (vắng mặt); Nơi cư trú: ấp L A, xã L T, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.

3. Lê Nhật D - sinh năm: 1996. (vắng mặt); Nơi cư trú: 157A/1, ấp Đ M, xã Đ H, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.

4. Trần Tuấn Y - sinh năm: 1989. (vắng mặt); Nơi cư trú: 83/1, ấp L A, xã L T, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.

5. Trần Tuấn T - sinh năm: 1989. (vắng mặt); Nơi cư trú: ấp L A, xã L T, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.

6. Nguyễn Thị T - sinh năm: 1956. (vắng mặt); Nơi cư trú: ấp T L, xã P H, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.

7. Phạm Thị Thu T - sinh năm: 1995. (vắng mặt); Nơi cư trú: ấp T T, xã L T, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.

8. Nguyễn Văn Cu E - sinh năm: 1978. (vắng mặt); Nơi cư trú: ấp A B, xã M H, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ 00 phút ngày 19/9/2020, Trần Qui N điện thoại cho Mai Văn M, Đoàn Thị Đ và một số người khác đến nhà của N ở số 157A/1, ấp Đ M, xã Đ H, huyện Lai Vung để đánh bạc (lắc tài xỉu) ăn thua bằng tiền, nhằm mục đích lấy tiền xâu. Đến khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, Mai Văn M đem theo bộ dụng cụ để lắc tài xỉu (bao gồm: 03 hột xí ngầu, 01 cái đĩa bằng sứ và 01 hộp nhựa bên trong màu xanh, bên ngoài màu đen) và 700.000 đồng đến nhà N để làm cái cho Lương Văn D, Đoàn Thị Đ, Nguyễn Tuấn T và Trần Tuấn Y đặt cược, mỗi ván từ 10.000 đồng đến 300.000 đồng. N quy định tiền xâu của người làm cái mỗi giờ từ 100.000 đồng đến 150.000 đồng; nếu 03 hột xí ngầu có tổng số từ 04 đến 10 nút là xỉu, 11 đến 17 nút là tài và khi người làm cái lắc tài xỉu có ván bão (03 mặt xí ngầu có số nút giống nhau, người làm cái thắng hết cả bên tài và xỉu) thì chia đều tiền thắng với N. M làm cái được khoảng 60 phút (không xác định được tổng cộng bao nhiêu ván) thì không làm cái nữa, M đã chia tiền xâu cho N 03 ván bão, mỗi ván 50.000 đồng, tổng cộng là 150.000 đồng, M thua 400.000 đồng, còn lại 300.000 đồng.

Khi các đối tượng nêu trên đang tham gia lắc tài xỉu thì Lê Hoàng Quốc T đến nhà của Trần Qui N chơi, sau đó thì T tham gia lắc tài xỉu và dùng 1.200.000 đồng làm cái để M, D, Đ, T và Y tham gia đặt tiền, mỗi ván từ 10.000 đồng đến 200.000 đồng, T đưa tiền cho Lê Nhật D giữ và D giúp T thu, chi tiền cho những người đặt (làm vĩ). T làm cái được khoảng 30 phút, không rõ tổng cộng bao nhiêu ván và kết quả thắng thua, trong đó T đã chia tiền xâu cho N 02 ván bão, tổng cộng là 150.000 đồng, việc đánh bạc đang tiếp diễn thì bị Công an huyện Lai Vung bắt quả tang, D bỏ chạy và làm rơi mất số tiền (khoảng 1.200.000 đồng) còn lại của T dùng để đánh bạc mà D đang giữ để thu, chi dùm khi T làm cái.

Cơ quan điều tra tạm giữ các vật chứng tại chiếu bạc gồm: 03 hột xí ngầu, 01 cái đĩa bằng sứ, 01 hộp nhựa bên trong màu xanh, bên ngoài màu đen, 06 lá bài tây và 100.000 đồng không xác định được chủ sở hữu.

Đối với điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen, loại bàn phím bấm của Trần Qui N dùng để điện thoại rủ Mai Văn M, Đoàn Thị Đ và một số người khác đến nhà của N để đánh bạc, khi bị Công an bắt quả tang, N bỏ chạy ra phía sau nhà đã làm rơi mất điện thoại.

Ngày 14/4/2021 và ngày 06/5/2021 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lai Vung đã tiến hành truy tìm tang vật là điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen, loại bàn phím bấm của Trần Qui N và số tiền khoảng 1.200.000 đồng còn lại của T dùng để đánh bạc mà D đang giữ bị mất khi Công an bắt quả tang nhưng không tìm thấy.

Trong quá trình điều tra, ngày 03/5/2021 và ngày 04/5/2021 Cơ quan điều tra đã thu giữ của Trần Qui N 500.000 đồng thu lợi bất chính từ việc tổ chức đánh bạc, thu giữ của Mai Văn M 900.000 đồng là tiền dùng đánh bạc.

Tại bản cáo trạng số 35/CT-VKSLVg, ngày 16/6/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lai Vung, đã truy tố Lê Hoàng Quốc T ra trước Toà án nhân dân huyện Lai Vung, để xét xử về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

- Kiểm sát viên ông Lê Văn Chính thay cho Kiểm sát viên bà Nguyễn Chúc Linh được bị cáo đồng ý việc thay đổi Kiểm sát viên và không có ý kiến gì.

- Bị cáo Lê Hoàng Quốc T đã khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện phù hợp với nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lai Vung truy tố bị cáo về tội “Đánh bạc”.

- Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội: Khẳng định việc truy tố như Bản cáo trạng đã nêu là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Lê Hoàng Quốc T có 01 tiền án về tội đánh bạc, chưa được xóa án tích, ngày 19/9/2020, tại nhà của Trần Qui N ở số 157A/1, ấp Đ M, xã Đ H, huyện Lai Vung, T tiếp tục tham gia đánh bạc lắc tài xỉu ăn thua bằng tiền. Trong đó T dùng 1.200.000 đồng làm cái cho Mai Văn M, Lương Văn D, Đoàn Thị Đ, Nguyễn Tuấn T và Trần Tuấn Y đặt cược, mỗi ván từ 10.000 đồng đến 200.000 đồng; Lê Nhật D giúp T thu, chi tiền cho những người đặt cược. T làm cái được khoảng 30 phút thì bị Công an huyện Lai Vung bắt quả tang, khi thực hiện hành vi bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo thành khẩn khai báo, bị cáo có người bà tên Nguyễn Thị N là Mẹ Việt Nam anh hùng và có người ông tên Lê Văn H, được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng nhì, nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự; xử phạt Lê Hoàng Quốc T từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù giam; Về hình phạt bổ sung: căn cứ khoản 3 Điều 321 của Bộ luật hình sự phạt bổ sung đối với bị cáo Lê Hoàng Quốc T từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng. Về trách nhiệm dân sự: Không có. Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị Tòa án nhân dân huyện Lai Vung tuyên:

+ Tịch thu tiêu hủy dụng cụ dùng để đánh bạc gồm: 03 hột xí ngầu, 01 cái đĩa bằng sứ và 01 hộp nhựa bên trong màu xanh, bên ngoài màu đen và 06 lá bài tây.

+ Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 100.000 đồng thu tại chiếu bạc không xác định được chủ sở hữu; 500.000 đồng của Trần Qui N và 900.000 đồng của Mai Văn M là tiền thu lợi bất chính từ việc tổ chức đánh bạc, đánh bạc. (Trần Qui N và Mai Văn M đã nộp xong).

(Hiện vật chứng và tài sản trên do Chi cục thi hành án dân sự huyện Lai Vung đang quản lý).

Đối với các đối tượng Trần Qui N có hành vi tổ chức đánh bạc; Lê Nhựt D, Mai Văn M, Lương Văn D, Đoàn Thị Đ, Nguyễn Tuấn T và Trần Tuấn Y có hành vi đánh bạc (lắc tài xỉu), nhưng số tiền dùng đánh bạc dưới 5.000.000 đồng. Các đối tượng này không có tiền án, tiền sự về hành vi đánh bạc hoặc tổ chức đánh bạc nên chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm tổ chức đánh bạc hoặc đánh bạc.

Bị cáo Lê Hoàng Quốc T thống nhất với Bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lai Vung, không tranh luận gì. Bị cáo yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên của huyện Lai Vung trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, đúng trình tự thủ tục của Bộ luật tố tụng hình sự quy định. Giai đoạn điều tra cũng như tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng trong vụ án không có ý kiến, khiếu nại gì về hành vi, quyết định của các cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó các chứng cứ, tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án là hợp pháp.

Về hành vi của bị cáo: Lê Hoàng Quốc T đã có hành vi đánh bạc với hình thức lắc xí ngầu được thua bằng tiền là phù hợp hiện trường vụ án, vật chứng thu giữ, phù hợp lời khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và những người làm chứng cùng các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, do đó lời nhận tội của bị cáo là có căn cứ. Bị cáo thực hiện tội phạm với lỗi cố ý, khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và nhận thức rõ hành vi của mình là trái pháp luật. Số tiền mà bị cáo dùng để tham gia đánh bạc là dưới 5.000.000 đồng, nhưng bị cáo đã có 01 tiền án về tội đánh bạc, chưa được xóa án tích, lại tiếp tục phạm tội, đây là tình tiết định khung hình phạt đối với bị cáo. Nên hành vi của bị cáo Lê Hoàng Quốc T có đầy đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” phạm vào khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự.

Tại khoản 1, khoản 3 Điều 321 của Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

…………

“3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.”

Về tính chất, mức độ tội phạm: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an ở địa phương, kỷ cương pháp luật bị xâm hại, xâm phạm đến khách thể là trật tự công cộng, được luật hình sự bảo vệ, đánh bạc là một tệ nạn xã hội, pháp luật nghiêm cấm, vì nó là nguyên nhân dẫn đến nhiều loại tội phạm khác, thậm chí gây mất hạnh phúc trong gia đình, bị mọi người và xã hội lên án, thế nhưng bất chấp tất cả và ý thức không tôn trọng luật pháp mà bị cáo đã tham gia đánh bạc với hình thức lắc xí ngầu ăn thua bằng tiền, vì vậy việc đưa bị cáo ra xét xử công khai như ngày hôm nay là cần thiết, đồng thời nhằm mục đích giáo dục, răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.

Tính chất vụ án là ít nghiêm trọng, nhưng đã làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự xã hội ở địa phương, quần chúng bất bình, gây dư luận xấu trong địa bàn. Bị cáo đã có 01 tiền án về tội đánh bạc, chưa được xóa án tích bị cáo lại tiếp tục hành vi đánh bạc và bị bắt quả tang, điều đó thể hiện bị cáo không biết ăn năng, hối cải, xem thường pháp luật, ngoài ra bị cáo có nhân thân không tốt. Nên cần có mức hình phạt nghiêm đối với bị cáo, phải cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian, để giáo dục bị cáo trở thành người tốt có ích cho gia đình, xã hội và phòng ngừa chung đối với loại tội phạm này. Ngoài ra cần phạt bổ sung đối với bị cáo để thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật.

Đối với các đối tượng Trần Qui N có hành vi tổ chức đánh bạc; Lê Nhựt D, Mai Văn M, Lương Văn D, Đoàn Thị Đ, Nguyễn Tuấn T và Trần Tuấn Y có hành vi đánh bạc (lắc tài xỉu), nhưng số tiền dùng đánh bạc dưới 5.000.000 đồng. Các đối tượng này không có tiền án, tiền sự về hành vi đánh bạc hoặc tổ chức đánh bạc nên chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm tổ chức đánh bạc hoặc đánh bạc.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần Qui N và Mai Văn M vắng mặt tại phiên tòa nhưng qua các lời khai có trong hồ sơ vụ án thì ngày 19/9/2020, N có lấy tiền xâu của người làm cái và M có tham gia làm cái lắc tài xỉu cùng bị cáo và các đối tượng khác. Trần Qui N đã nộp 500.000 đồng và Mai Văn M đã nộp 900.000 đồng là tiền thu lợi bất chính từ việc tổ chức đánh bạc xong và không yêu cầu gì.

Đối với những người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa, nhưng qua các lời khai có trong hồ sơ đều phù hợp và đúng như nội dung vụ án.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo Lê Hoàng Quốc T đã thành khẩn khai báo, bị cáo có người bà tên Nguyễn Thị N là Mẹ Việt Nam anh hùng và có người ông tên Lê Văn H, được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng nhì, đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Kiểm sát viên đề nghị giải quyết nội dung vụ án này là đúng quy định pháp luật, Hội đồng xét xử đồng ý với quan điểm của Kiểm sát viên.

Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy: 03 (ba) hột xí ngầu, 01 (một) đĩa sứ màu trắng, 01 (một) hộp nhựa, bên trong màu xanh, bên ngoài màu đen và 06 (sáu) lá bài tây, vì đây là dụng cụ dùng để đánh bạc.

- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 100.000 đồng thu tại chiếu bạc, do không xác định được chủ sở hữu. (số tiền 100.000 đồng để trong gói niêm phong, có chữ ký, họ tên Trần Qui N, Điều tra viên Lê Thanh T, đồng thời đóng dấu tròn màu đỏ của Cơ quan CSĐT Công an huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp).

- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 500.000 đồng tạm giữ của Trần Qui N, vì đây là tiền thu lợi bất chính từ việc tổ chức đánh bạc. (số tiền 500.000 đồng để trong gói niêm phong, có chữ ký, họ tên Điều tra viên Võ Minh Q và đóng dấu tròn màu đỏ của Cơ quan CSĐT Công an huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp).

- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 900.000 đồng tạm giữ của Mai Văn M, vì đây là tiền dùng đánh bạc. (số tiền 900.000 đồng để trong gói niêm phong, có chữ ký, họ tên Điều tra viên Võ Minh Q và đóng dấu tròn màu đỏ của Cơ quan CSĐT Công an huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp).

(Hiện vật chứng trên và tiền do Chi cục thi hành án dân sự huyện Lai Vung đang quản lý).

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Lê Hoàng Quốc T phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt bị cáo Lê Hoàng Quốc T 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

Căn cứ khoản 3 Điều 321 của Bộ luật hình sự. Phạt bổ sung đối với bị cáo Lê Hoàng Quốc T số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng).

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy: 03 (ba) hột xí ngầu, 01 (một) đĩa sứ màu trắng, 01 (một) hộp nhựa, bên trong màu xanh, bên ngoài màu đen và 06 (sáu) lá bài tây.

- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 100.000 đồng thu tại chiếu bạc (số tiền 100.000 đồng để trong gói niêm phong, có chữ ký, họ tên Trần Qui N, Điều tra viên Lê Thanh T, đồng thời đóng dấu tròn màu đỏ của Cơ quan CSĐT Công an huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp).

- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 500.000 đồng tạm giữ của Trần Qui N. (số tiền 500.000 đồng để trong gói niêm phong, có chữ ký, họ tên Điều tra viên Võ Minh Q và đóng dấu tròn màu đỏ của Cơ quan CSĐT Công an huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp).

- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 900.000 đồng tạm giữ của Mai Văn M. (số tiền 900.000 đồng để trong gói niêm phong, có chữ ký, họ tên Điều tra viên Võ Minh Q và đóng dấu tròn màu đỏ của Cơ quan CSĐT Công an huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp).

(Hiện vật chứng trên và tiền do Chi cục thi hành án dân sự huyện Lai Vung đang quản lý).

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Lê Hoàng Quốc T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án ngày 04/10/2021. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa, thì thời hạn kháng cáo tính 15 ngày kể từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự: Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ