vanban.org

Bản án 39/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 16/09/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Võ Lưu G1 (tên gọi khác: G2) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Võ Lưu G1 (tên gọi khác: G2) 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 15/4/2021. Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Võ Lưu G 1.249 - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Võ Lưu G1 (tên gọi khác: G2) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HỒNG NGỰ
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 39/2021/HS-ST
Ngày: 16-9-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Lương Bằng.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Ngô Thị Lệ Nga.

Ông Nguyễn Tuấn Lam.

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Tưởng là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Ngô Hữu Ý - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 9 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 37/2021/TLST-HS ngày 25 tháng 6 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2021/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 6 năm 2021; Quyết định hoãn phiên tòa số: 04/2021/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 7 năm 2021; Quyết định hoãn phiên tòa số: 05/2021/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 7 năm 2021; Quyết định hoãn phiên tòa số: 08/2021/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 8 năm 2021 đối với bị cáo:

Võ Lưu G1 (tên gọi khác: G2), sinh năm 1991 tại huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp; Nơi cư trú: thị trấn TTT, huyện HN, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Văn D1 và bà Võ Thị B1; Sống như vợ, chồng với Đoàn Thị Như Ý; tiền án: 01 lần, ngày 20/02/2019 bị Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, chấp hành xong ngày 30/9/2019; tiền sự: không; tạm giữ: ngày 15/4/2021; tạm giam: ngày 21/4/2021; hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Hồng Ngự; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người làm chứng: Nguyễn Văn H, Trương Trọng T, Nguyễn Văn Cường, Phạm Chí L; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 21 giờ ngày 14/4/2021, nhận được tin báo của quần chúng nhân dân tại nhà của Võ Lưu G1 thuộc thị trấn TTT, huyện HN có một số đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy nên Công an huyện Hồng Ngự phối hợp với phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Đồng Tháp và Công an thị trấn TTT, huyện HN tiến hành kiển tra và phát hiện các đối tượng Võ Lưu G1, Phạm Chí L, Nguyễn Văn H và Trương Trọng T đang có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Qua kiểm tra trên người Nguyễn Văn H có 01 túi nylon hàn kín bên trong có chứa nhiều tin thể rắn (nghi là ma túy) và thu giữ 01 túi nylon hàn kín bên trong chứa nhiều tinh thể rắn (nghi là ma túy) được để trong một vỏ bao thuốc lá hiệu HERO dưới nền đất. Võ Lưu G1 thừa nhận 01 túi nylon hàn kín bên trong chứa nhiều tinh thể rắn là chất ma túy được để trong một vỏ bao thuốc lá hiệu HERO là của G1 tàng trữ để sử dụng. Nên lực lượng Công an lập bên bản bắt người phạm tội quả tang.

Vật chứng thu giữ: 06 túi nylon còn hở 01 đầu; 01 bộ dụng cụ dùng để sử dụng trái phép chất ma túy, 01 bật lửa màu xanh, 01 bật lửa màu tím, 01 cái nỏ bằng thủy tinh, 01 vỏ bao thuốc lá hiệu HERO, đã qua sử dụng.

- 01 (một) túi nylon được hàn kín, bên trong chứa nhiều tinh thể rắn (nghi là ma túy), được niêm phong trong một phong bì giấy trên phong bì có các chữ ký ghi rõ họ và tên của Nguyễn Văn B2, Võ Lưu G1, Nguyễn Văn Cường và hình dấu tròn mà đỏ của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp.

- 01 (một) túi nylon được hàn kín, bên trong chứa nhiều tinh thể rắn (nghi là ma túy), được niêm phong trong một phong bì giấy trên phong bì có các chữ ký ghi rõ họ và tên của Nguyễn Văn B2, Nguyễn Văn Cường, 02 dấu vân tay màu đỏ nghi tên Nguyễn Văn H và hình dấu tròn mà đỏ của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp.

Kết luận giám định số 393/KL-KTHS, ngày 16/4/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Tháp, kết luận:

- Tinh thể rắn chứa trong 01 túi nylon được hàn kín, được niêm phong trong một phong bì (ký hiệu phong bì số 1) nêu trên gửi đi giám định là chất ma túy, có khối lượng 2,292 gam, loại Methamphetamine (số thứ thự 323 thuộc Danh mục II, Nghị định số 73 ngày 15/5/2018 của Chính phủ).

- Tinh thể rắn chứa trong 01 túi nylon được hàn kín, được niêm phong trong một phong bì (ký hiệu phong bì số 2) nêu trên gửi đi giám định là chất ma túy, có khối lượng 0,011 gam, loại Methamphetamine.

Quá trình điều tra, Võ Lưu G1 khai nhận số ma túy bị công an bắt quả tang là G1 mua của người thanh niên (không biết rõ họ tên và địa chỉ) ở thành phố Hồ Chí Minh với số tiền 1.000.000 đồng, cất giấu để sử dụng.

Tại Cáo trạng truy tố số 35/CT-VKSHN ngày 24 tháng 6 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp truy tố bị cáo Võ Lưu G1 về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phần luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa: Căn cứ lời khai bị cáo, lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng, cùng các tài liệu chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ kết luận số ma túy loại Methamphetamine có khối lượng 2,292 gam là của Võ Lưu G1 tàng trữ để sử dụng. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo là thành khẩn khai báo, có người thân là Liệt sĩ. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: tái phạm.

Kiểm sát viên đề nghị: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Võ Lưu G1 từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù. Về trách nhiệm dân sự: Không phát sinh nên không đề cập đến. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tô tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy đối với: Mẫu tinh thể rắn còn lại sau giám định trong phong bì có chữ ký ghi họ tên Võ Lưu G1 (ký hiệu phong bì số 1) được dán giấy niêm phong lại, ghi “Niêm phong số: 408/1, ngày 15/4/2021”, có đóng hình dấu tròn màu đỏ của “Phòng kỹ thuật hình sự-Công an tỉnh Đồng Tháp” và các chữ ký ghi họ tên: Nguyễn Văn Thắng E, Bùi Văn D2, Nguyễn Văn B2, Võ Lưu G1 và in 2 dấu vân tay màu đỏ ghi họ tên Nguyễn Văn H; Mẫu tinh thể rắn trong phong bì có in 2 dấu vân tay màu đỏ ghi họ tên Nguyễn Văn H (ký hiệu phong bì số 2) đã sử dụng hết cho công tác giám định; vỏ túi nylon trong phong bì được dán giấy niêm phong lại, ghi “Niêm phong số: 408/2, ngày 15/4/2021”, có đóng hình dấu tròn màu đỏ của “Phòng kỹ thuật hình sự-Công an tỉnh Đồng Tháp” và các chữ ký ghi họ tên: Nguyễn Văn Thắng E, Bùi Văn D2, Nguyễn Văn B2, Võ Lưu G1 và in 2 dấu vân tay màu đỏ ghi họ tên Nguyễn Văn H; 01 bộ dụng cụ dùng để sử dụng trái phép chất ma túy; 06 túi ny lon còn hở 01 đầu; 01 bật lửa màu xanh; 01 bật lửa màu tím. 01 cái nỏ bằng thủy tinh và 01 vỏ bao thuốc lá hiệu HERO.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, thống nhất với cáo trạng truy tố, xin Hội đồng xét xử xem xét, cho bị cáo giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến và khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Tại phiên toà, bị cáo Võ Lưu G1 đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng của Viện kiểm sát đã nêu. Lời khai nhận của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của người làm chứng và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó, đã đủ căn cứ kết luận hành vi của bị cáo phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự, như sau:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

..............................................................

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

.............................................................. ”

Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Đối với hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo nhận biết được sử dụng ma túy không có tác dụng cho con người, bị cáo hoàn toàn nhận thức được ma túy là chất độc hại, Nhà nước nghiêm cấm mọi hoạt động sản xuất, mua bán, tàng trữ…. trái phép chất ma túy. Nhưng chỉ vì muốn thỏa mãn cơn nghiện bị cáo đã tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng. Do đó, cần phải có mức hình phạt nghiêm khắc, cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định nhằm giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt và có tác dụng phòng ngừa chung cho xã hội.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã có 01 tiền án về hành vi tàng trữ trái phép chất mua túy chưa được xóa tích, nên đây là hành vi tái phạm. Vì vậy, cần thiết phải áp dụng điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự để tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

Bị cáo có tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải; bị cáo có người thân là Liệt sĩ, do đó, áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ cho bị cáo khi quyết định hình phạt.

Đối với Nguyễn Văn H thừa nhận 01 túi nylon được hàn kín, bên trong chứa nhiều tinh thể rắn là chất ma túy, có khối lượng 0,011 gam, loại Methamphetamine, là do H cất giấu trong túi quần, để sử dụng. Tuy nhiên, không đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Cơ quan cảnh sát điều tra chuyển hồ sơ đến Công an thị trấn TTT, huyện HN để xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật, nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét về trách nhiệm hình sự.

Đối với Phạm Chí L và Trương Trọng T, sử dụng trái phép chất ma túy cùng với bị can G1. Cơ quan Cảnh sát điều tra chuyển hồ sơ đến Công an thị trấn Thường Thới Tiền để xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật, nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét về trách nhiệm hình sự.

Đối với người thanh niên bán ma túy cho bị cáo (không rõ họ và tên, địa chỉ cụ thể) ở thành phố Hồ Chí Minh, Cơ quan điều tra chưa làm việc được, khi nào làm rõ xử lý sau.

Về trách nhiệm dân sự: Không phát sinh, nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét.

Về xử lý vật chứng, tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm: Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp với quy định tại Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự nên chấp nhận.

Về án phí sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 và Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án để buộc bị cáo phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Võ Lưu G1 (tên gọi khác: G2) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

3. Xử phạt bị cáo Võ Lưu G1 (tên gọi khác: G2) 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 15/4/2021.

4. Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

4.1. Tịch thu tiêu hủy: Mẫu tinh thể rắn còn lại sau giám định trong phong bì có chữ ký ghi họ tên Võ Lưu G1 (ký hiệu phong bì số 1) được dán giấy niêm phong lại, ghi “Niêm phong số: 408/1, ngày 15/4/2021”, có đóng hình dấu tròn màu đỏ của “Phòng kỹ thuật hình sự-Công an tỉnh Đồng Tháp” và các chữ ký ghi họ tên: Nguyễn Văn Thắng E, Bùi Văn D2, Nguyễn Văn B2, Võ Lưu G1 và in 2 dấu vân tay màu đỏ ghi họ tên Nguyễn Văn H;

4.2. Tịch thu tiêu hủy: Mẫu tinh thể rắn trong phong bì có in 2 dấu vân tay màu đỏ ghi họ tên Nguyễn Văn H (ký hiệu phong bì số 2) đã sử dụng hết cho công tác giám định; vỏ túi nylon trong phong bì được dán giấy niêm phong lại, ghi “Niêm phong số: 408/2, ngày 15/4/2021”, có đóng hình dấu tròn màu đỏ của “Phòng kỹ thuật hình sự-Công an tỉnh Đồng Tháp” và các chữ ký ghi họ tên: Nguyễn Văn Thắng E, Bùi Văn D2, Nguyễn Văn B2, Võ Lưu G1 và in 2 dấu vân tay màu đỏ ghi họ tên Nguyễn Văn H.

4.3. Tịch thu tiêu hủy: 01 bộ dụng cụ dùng để sử dụng trái phép chất ma túy.

4.4. Tịch thu tiêu hủy: 06 túi ny lon còn hở 01 đầu.

4.5. Tịch thu tiêu hủy: 01 bật lửa màu xanh.

4.6. Tịch thu tiêu hủy: 01 bật lửa màu tím.

4.7. Tịch thu tiêu hủy: 01 cái nỏ bằng thủy tinh.

4.8. Tịch thu tiêu hủy: 01 vỏ bao thuốc lá hiệu HERO.

Những vật chứng trên hiện Chi cục thi hành án dân sự huyện Hồng Ngự đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 24 tháng 6 năm 2021.

5. Về án phí: áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Võ Lưu G1 (tên gọi khác: G2) phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (16/9/2021).

7. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án được thực hiện theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án Dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ