vanban.org

Bản án 39/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang Tuyên án 10/05/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

50; Điều 65 của Bộ luật hình sự . Xử:

1- Tuyên bố bị cáo Hoàng Trọng N phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. 2- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Hoàng Trọng N 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án Hoàng Trọng N phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (đ…"
  • Tòa quyết gì? 50; Điều 65 của Bộ luật hình sự . Xử:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN
HIỆP HÒA TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 39/2021/HS - ST
Ngày 10 - 5 - 2021

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ N VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Đặng Văn Chức

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ngọc Trứ - Ông Bùi Thế Hanh

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Dương Thị Huệ - Thư ký Tòa án nhân

dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Hồng Hạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 5 năm 2021, tại trụ sở TAND huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 32/2021/TLST-HS ngày 08 tháng 4 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2021/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 4 năm 2021 đối với bị cáo:

Họ và tên: Hoàng Trọng N; Tên gọi khác: Không;

Giới tính: Nam;

Sinh năm 1977;

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn T, xã HT, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang;

Nghề nghiệp: Lái xe;

Trình độ văn hóa: Lớp 9/12;

Quốc tịch: Việt Nam;

Dân tộc: Kinh;

Tôn giáo: Không;

Con ông: Hoàng Văn Đ, sinh năm 1940;

Con bà: Nguyễn Thị Q, sinh năm 1946;

Vợ: Lương Thúy H, sinh năm 1981;

Con: Bị cáo có 03 con, lớn sinh năm 2004, nhỏ sinh năm 2012;

Gia đình có 04 chị em, Bị cáo là con thứ ba.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo không bị tạm giữ, tạm diam, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú – có mặt tại phiên tòa

- Bị hại: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1962 (đã chết)

- Đại diện hợp pháp của bị hại:

Ông Tạ Văn H1, sinh năm 1963 – (chồng bà L) – vắng mặt

Anh Tạ Văn Đ1, sinh năm 1985(con bà L) – vắng mặt

Chị Tạ Thị T1, sinh năm 1984 (con bà L) – vắng mặt

Cùng địa chỉ: thôn NT, xã NS, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang.

(anh Điệp, chị Tâm ủy quyền cho ông Hùng tham gia tố tụng)

- Ngƣời có quyền lợi N vụ liên quan:

1. Anh Nguyễn Ngọc T2, sinh năm 1987 – vắng mặt

Địa chỉ: thôn LC, xã PS, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang.

2. Chị Đặng Thị Lập, sinh năm 1994 – vắng mặt

Địa chỉ: thôn NT, xã NS, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Anh Nguyễn Ngọc T2, sinh năm 1987 trú tại thôn LC, xã PS, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang ký kết hợp đồng thuê lái xe với Hoàng Trọng N, sinh năm 1977 trú tại Thôn T, xã HT, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang (N có giấy phép lái xe hạng E, FC). N được anh T2 giao lái ô tô đầu kéo, biển kiểm soát 98C-206.37 kéo theo sơ mi rơ moóc biển kiểm soát 34R-023.15 và có nhiệm vụ lái xe chở hàng hóa theo yêu cầu của anh T2. Khoảng 19 giờ ngày 05/10/2020, N một mình điều khiển chiếc xe ô tô đầu kéo, biển kiểm soát 98C-206.37 kéo theo sơ mi rơ moóc biển kiểm soát 34R-023.15 từ nhà đến Công ty Cổ phần xi măng Thành Thắng ở tỉnh Hà Nam để vận chuyển xi măng về kho hàng của anh T2 ở thôn LC, xã PS, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang. Sau khi nhận hàng xong, N điều khiển xe ô tô đi về. Khi đi qua khu vực cầu NT, xã NS, huyện Hiệp Hòa được khoảng 300m, cách ngã ba đường vào khu đất mới thuộc xóm TT, xã NS, huyện Hiệp Hòa khoảng 03 đến 04m thì N phát hiện thấy Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1962 trú tại thôn NT, xã NS, huyện Hiệp Hòa điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 98D1-109.39 đi từ khu đất mới ra đường sau đó chuyển hướng sang đường. N bóp còi xe rà phanh và đánh lái xe ô tô sang bên trái đường theo hướng đang di chuyển để tránh bà L. Lúc này, bà L điều khiển xe mô tô sang bên trái đường nên xe ô tô do N điều khiển đã đâm vào xe mô tô do bà L điều khiển. Sau khi gây tai nạn, xe ô tô do N đẩy bà L cùng chiếc xe mô tô ra phía ngoài lề đường bên trái theo hướng huyện Hiệp Hòa đi huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang rồi dừng lại. Hậu quả, bà L đã tử vong trên đường đưa đi cấp cứu.

Kết quả khám nghiệm hiện trƣờng:

Đoạn đường nơi xảy ra tai nạn là tại khu vực ngã ba giao nhau giữa đường Tỉnh lộ 295B với đường rẽ vào khu đất mới xóm TT thuộc địa phận thôn NT, xã NS, huyện Hiệp Hòa; lòng đường rộng 08m, đầu đường rẽ vào khu đất mới rộng 07m, ở giữa đường 295B có vạch kẻ sơn màu vàng đứt quãng chia lòng đường thành hai phần bằng nhau. Lấy hướng ngã ba TC - NS đi Tân Yên làm chuẩn để xác định bên phải, bên trái trong mô tả hiện trường. Lấy cột biển báo nguy hiểm giao nhau giữa đường ưu tiên và đường không ưu tiên phía ngoài mép cống bên phải làm mốc định vị.

Ghi nhận việc đánh số thứ tự theo số tự nhiên vị trí nạn nhân, phương tiện, tang vật, dấu vết: (1), (2) Dấu vết trượt hằn màu đen trên mặt đường nhựa (dạng dấu vết phanh); (3) xe ô tô đầu kéo, biển kiểm soát 98C-206.37 kéo theo sơ mi rơ moóc biển kiểm soát 34R-023.15; (4) Dấu vết cày xước mặt đường đứt quãng; (5) Dấu vết máu; (6) xe mô tô biển kiểm soát 98D1-109.39; (7) mốc định vị; (8) Dấu vết xước, mài trượt trên mặt bê tông.

Dấu vết trượt hằn màu đen trên mặt đường nhựa (1) có chiều dài 19,20m, có hướng ngã ba TC - NS đi Tân Yên, chếch chéo theo hướng từ mép đường bên phải sang mép đường bên trái; điểm đầu cách mép đường phải 2,10m; điểm cuối kết thúc tại trục bánh trước bên phải xe ô tô và cách mép đường nhựa trái 2,50m; đầu cách mốc định vị 12,55m; độ rộng 0,32m, dạng hình cung.

Dấu vết trượt hằn màu đen trên mặt đường nhựa (2) có chiều dài 18,60m, có hướng ngã ba TC - NS đi Tân Yên; đầu cách mép đường nhựa phải 3,87m; cách mốc định vị 12,45m; điểm cuối trùng với bánh trục trước bên trái xe ô tô; độ rộng 0,32m, dạng hình cung.

Xe ô tô đầu kéo, biển kiểm soát 98C-206.37 kéo theo sơ mi rơ moóc biển kiểm soát 34R-023.15 (3) đỗ trên mặt đường và phía ngoài lề đường bên trái có hướng ngã ba TC đi Tân Yên, chếch chéo về mép đường nhựa bên trái, trục bánh trước bên trái xe ô tô cách mép đường nhựa trái 2,50m; trục bánh sau bên phải cách mép đường nhựa bên phải 4,05m; đầu xe ô tô hướng về phía cửa nhà dân.

Dấu vết cày xước mặt đường đứt quãng (4) có chiều dại 8,50m; có hướng ngã ba TC - NS đi Tân Yên; đầu cách mép đường nhựa phải 6,04m; điểm cuối trùng với để chân chính bên phải xe mô tô; cách mép đường nhựa trái 3,07m.

Dấu vết máu có kích thước (0,30 x 0,10)m nằm phía ngoài cống bên trái; cách mép đường nhựa trái 1,60m; cách trục bánh trước bên phải xe ô tô là 1,38m.

Xe mô tô đổ nghiêng bên phải, nằm hoàn toàn phía dưới gầm đầu kéo 98C-206.37; trục bánh sau cách mép đường nhựa trái 3,05m; cách đầu trục bánh trước bên phải là 0,46m; trục bánh trước cách mép đường nhựa trái 4,10m; cách đầu trục trong bánh trước bên trái của ô tô là 0,95m.

Khoảng cách từ mốc định vị đến đầu mép đường đi vào khu đất mới là 22,70m; phía trước cửa gia đình ông Chiến bên trái theo hướng xe mô tô đổ có dấu vết xước, mài trượt trên mặt bê tông có hướng TC đi Tân Yên, chếch chéo từ mép cống bên trái vào phía nhà ông Chiến. Dấu vết xước, mài trượt trên mặt bê tông có kích thước dài 2,5m; điểm đầu cách mép đường nhựa trái 1,28m; điểm cuối trùng với ốp bảo vệ ống xả xe mô tô; cách mép đường nhựa trái 3,0m (BL 18-19)

Khám nghiệm tử thi Nguyễn Thị L:

Khám bên ngoài: Vùng đầu tóc đen cắt ngang vai; Vùng trán có vết chợt da kích thước (5x4)cm; Vùng đỉnh chẩm trái có đám bầm tím kích thước (10x7)cm, xung quanh sưng nề, kích thước (12x9)cm; Vùng chẩm phải sưng nề bầm tím kích thước (11x6)cm; Má trái có 02 vết chợt da kích thước (6x4)cm và (2x0,5)cm; Vai trái có vết bầm tím chợt da kích thước (10x7)cm; Vai phải có vết bầm tím kích thước (5x2)cm; Vùng bả vai trái có đám chợt da kích thước (16x9)cm; Bả vai phải có đám bầm tím chợt da kích thước (11x6)cm; Mông phải bầm tím chợt da kích thước (9x4)cm; Mông trái bầm tím kích thước (7x5)cm; Khuỷu tay phải có vết chợt da kích thước (1,5x1)cm; Mặt sau 1/3 giữa cẳng tay phải có vết bầm tím kích thước (3,5x1,5)cm; Khuỷu tay trái có 02 vết chợt da kích thước (1x0,8)cm và (0,5x0,5)cm; Mặt sau 1/3 trên cẳng tay trái có vết chợt da kích thước (5,5x1,5)cm; Gối trái có đám chợt da kích thước (6x5)cm; Mặt trước cẳng chân trái có vết bầm, tím kích thước (12x2)cm; Hậu môn không thoát phân.

Mổ tử thi: Bộc lộ da đầu thấy tụ máu dưới da vùng đỉnh chẩm kích thước (20x17)cm; Vỡ xương sọ vùng đỉnh chẩm kích thước (20x0,2)cm, qua khe xương vỡ thấy có máu màu đỏ chảy ra ngoài (BL 23-24).

Ngày 06/10/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hiệp Hòa trưng cầu giám định nguyên nhân chết của Bà Nguyễn Thị L. Ngày 07/10/2020, Trung tâm pháp y - Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Giang có Kết luận giám định pháp y về tử thi số 4096/20/GĐPY, kết luận: Bà Nguyễn Thị L chết do chấn thương sọ não, vỡ xương sọ, chảy máu nội sọ do tai nạn giao thông ( BL 49-50).

Kết quả khám nghiệm phƣơng tiện:

Kết quả khám xe ô tô đầu kéo, biển kiểm soát 98C-206.37 kéo theo sơ mi rơ moóc biển kiểm soát 34R-023.15:

Mặt ngoài phía trước ba đờ sốc đầu kéo phần bên phải cách mặt đất 71cm có vết trượt xước sơn hướng từ trái qua phải, từ dưới lên trên, kích thước (18x1,5)cm; Mặt ngoài phía dưới ba đờ sốc cách mặt đất 50 cm phần bên trái có vết chà sát trượt bám dính chất màu đen nghi là nhựa trên diện rộng, kích thước (35x4)cm; Két nước bị hỏng; Mặt ngoài phía dưới (đáy) máy (các-te) có vết lõm, biến dạng hướng từ dưới lên trên, từ trước về sau, có vết chà sát trên diện rộng kích thước (33x20)cm; Mặt ngoài phía dưới két nước làm mát bị đẩy cong hướng từ dưới lên trên, từ trước về sau; Kỹ thuật an toàn phương tiện: Hệ thống phanh, còi, đèn hoạt động bình thường (BL 27-28).

Kết quả khám xe mô tô biển kiểm soát 98D1-109.39:

Ốp mặt nạ phía trước mặt đồng hồ và đèn pha bị bật ra khỏi vị trí cố định Mặt ngoài phía trước kính nhựa đèn pha và mặt nạ phía trước mặt đồng hồ, đèn pha có vết chà sát trên diện rộng kích thước (24x14)cm; đèn xi nhan bên phải bị vỡ; Phần tay nắm bên phải bị đẩy cong hướng từ trước về sau, từ phải qua trái; Đầu tay nắm có vết chà sát kim loại kích thước (1,5x0,5)cm; Mặt ngoài phía trên phần ốp nhựa có vết chà sát cao su bám dính chất bột màu trắng kích thước (2x1,5)cm; Mặt ngoài phía trước chân tay phanh bên phải cách ốc nối 03 cm có vết chà sát kim loại kích thước (2x0,5)cm; Mặt nạ phía trước đầu xe mặt ngoài bên phải cách mặt đất 86cm có vết chà sát nhựa kích thước (6x4)cm; Cánh yếm bên trái bị dập vỡ; Mặt ngoài cánh yếm bên phải có vết chà sát trên diện rộng kích thước (22x9)cm; Giảm sóc trước bên phải bị đẩy cong hướng từ sau về trước; Đầu chắn bùn phía trước có vết chà sát nhựa kích thước (12x2)cm; Mặt ngoài bên trái lốp trước có vết trượt cao su màu đen trên diện rộng kích thước (50x4)cm; Mặt ngoài cần chân phanh có vết chà sát kim loại bám dính chất bột màu trắng kích thước (3x0,5)cm; Để chân chính bên phải bị đẩy cong hướng từ trước về sau, từ phải sang trái, đầu để chân có vết chà sát cao su và kim loại bám dính chất bột màu trắng kích thước (3x2,5)cm; Để chân chính bên trái bị đẩy cong hướng từ dưới lên trên, từ sau về trước; Ốp nhựa sườn xe bên trái phần đầu bị bật khỏi vị trí cố định; Mặt ngoài phía dưới để chân chính bên trái có vết chà sát kim loại bám dính chất màu xanh nghi sơn kích thước (3,5x0,5)cm; Ốp nhựa sườn xe bên phải bị bật ra khỏi vị trí cố định, mặt ngoài có vết chà sát trên diện rộng bám dính chất bột màu trắng kích thước (50x10)cm; Yên xe bị bật rời, khuyết; Khung giữ phía sau xe phần đầu bên phải bị đẩy cong hướng từ trên xuống dưới, từ trước về sau, mặt ngoài có vết chà sát rách nhựa kích thước (12x4)cm; Ốp bảo vệ ống xả mặt ngoài phía sau và mặt ngoài đuôi ống xả có vết chà sát kim loại trên diện rộng, hằn lõm có dám dính chất bột màu trắng kích thước (43x5)cm; Cần khởi động bị đẩy cong hướng từ trước về sau, từ phải qua trái, mặt ngoài có vết chà sát kim loại bám dính chất bột màu trắng kích thước (6,5x0,5)cm; Cụm đèn hậu bị vỡ, đẩy cong hướng từ trước về sau, từ trái qua phải, giá bảo vệ bị đẩy cong hướng từ trái qua phải, từ sau về trước; Chắn bùn phía sau bị gãy; Góc bên trái phía trên biển số xe bị đẩy cong hướng từ sau về trước, từ trên xuống dưới, phần mê ca bị vỡ, mặt ngoài có vết chà sát kích thước (5x4)cm; Mặt ngoài tại vị trí đầu khớp nối giữa để chân phụ bên trái với thân xe có vết chà sát kim loại bám dính chất màu đen kích thước (0,5x0,5)cm; Giảm sóc sau bên trái bị đẩy cong hướng từ trái qua phải, cách vị trí chân giảm sóc 7,5cm về phía trên có vết chà sát kim loại kích thước (2x0,5)cm; Mặt ngoài phía dưới hộp xích bị đẩy cong, có vết chà sát kim loại hướng từ dưới lên trên, từ trái qua phải; Mặt ngoài phía sau phần trên hộp xích có dấu vết hằn, lõm, chà sát kim loại kích thước (4x3)cm (BL 25-26).

Ngày 27/10/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hiệp Hòa ra Quyết định số 164/QĐ trưng cầu Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bắc Giang: giám định cơ chế hình thành dấu vết trên hai phương tiện xe ô tô và xe mô tô; điểm va chạm đầu tiên giữa hai xe trên mặt đường và tốc độ của hai xe khi xảy ra tại nạn trong vụ tai nạn giao thông. Tại bản Kết luận số 1733/KL-KTHS ngày 01/12/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bắc Giang, kết luận:

“+ Dấu vết mài sát sơn tại mặt ngoài bên phải ba đờ sốc trước của xe ô tô 98C-206.37 kéo theo rơ mooc 34R-023.15 được hình thành do va chạm với dấu vết mài sát sơn nhựa, dính chất màu ghi tại mặt ngoài ốp nhựa dưới yên xe bên trái của xe mô tô 98D1-109.39 tạo nên là phù hợp.

+ Dấu vết cày xước mặt đường ký hiệu số 4, số 8 được hình thành do quá trình sau khi va chạm xe mô tô 98D1-109.39 đổ nghiêng phải bị chèn đè, đẩy rê trượt, vị trí để chân trước bên phải, bảo vệ ống xả của xe mô tô 98D1-109.39 tiếp xúc với mặt đường tạo nên là phù hợp.

+ Vị trí va chạm giữa xe ô tô 98C-206.37 kéo theo rơ mooc 34R-023.15 với xe mô tô 98D1-109.39 trên mặt đường ở phía trước điểm đầu dấu vết cày xước mặt đường ký hiệu số 4. Không đủ cơ sở để xác định thuộc phần đường bên nào theo hướng TC - Tân Yên.

+ Không đủ cơ sở để xác định tốc độ của hai phương tiện khi xảy ra tai nạn” (BL 65-66).

Ngày 18/01/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hiệp Hòa ra Quyết định trưng cầu giám định số 46/QĐ trưng cầu Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bắc Giang giám định vị trí điểm va chạm giữa xe ô tô 98C-206.37 kéo theo rơ mooc 34R-023.15 với xe mô tô 98D1-109.39 ở khu vực nào trên đường (kèm theo mẫu giám định là 03 chiếc đĩa DVD ghi lại diễn biến vụ tai nạn giao thông). Tại bản Kết luận số 209/KL-KTHS ngày 02/02/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bắc Giang, kết luận:

“+ Vị trí 02 xe ô tô đầu kéo và mô tô (xuất hiện tại thời điểm 06 giờ 48 phút 06 giây – thời gian hiển thị trên khung hình) va chạm là tại phần trước đầu xe ô tô 98C-206.37 kéo theo rơ mooc 34R-023.15 và phần sườn bên trái xe mô tô 98D1-109.39 có trong file video cần giám định có tên 990168137415990563.mp4.

+ Điểm va chạm của 02 xe là tại phần làn đường bên trái theo hướng di chuyển của xe ô tô 98C-206.37 kéo theo rơ mooc 34R-023.15.

+ Không quan sát thấy vị trí va chạm của 02 phương tiện có trong file video có tên 784781861398555946.mp4 và file có tên TNGT.mp4” (BL 60).

Về vật chứng của vụ án: Quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave anpha, biển kiểm soát 98D1-109.39 thuộc quyền sở hữu hợp pháp của chị Đặng Thị Lập, sinh năm 1994 trú tại thôn NT, xã NS, huyện Hiệp Hòa (là con dâu bà L); Chiếc xe ô tô 98C-206.37 kéo theo rơ mooc 34R-023.15 và hàng hóa gồm 34 tấn xi măng là của Anh Nguyễn Ngọc T2. Ngày 11/10/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hiệp Hòa ra Quyết định xử lý đồ vật, tài liệu số 47: Trả lại Anh Nguyễn Ngọc T2 34 tấn xi măng. Ngày 27/11/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hiệp Hòa ra Quyết định xử lý đồ vật, tài liệu số 59: Trả lại Anh Nguyễn Ngọc T2 01 xe ô tô 98C-206.37 kéo theo rơ mooc 34R-023.15. Ngày 05/02/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hiệp Hòa ra Quyết định xử lý đồ vật, tài liệu số 20: Trả lại chị Đặng Thị Lập 01 xe mô tô biển kiểm soát 98D1-109.39. Đối với 01 Giấy phép lái xe ô tô Hạng E, FC mang tên Hoàng Trọng N; hiện Cơ quan điều tra đang tạm giữ chờ xử lý.

Về trách nhiệm dân sự: Sau khi xảy ra tai nạn, Hoàng Trọng N đã đến thăm hỏi, phúng viếng và bồi thường cho gia đình Bà Nguyễn Thị L do ông Tạ Văn H1 sinh năm 1963 (là chồng của bà L) số tiền 188.000.000 đồng (Một trăm tám mươi tám triệu đồng). Đến nay, ông Hùng không yêu cầu gì về bồi thường dân sự và có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho Hoàng Trọng N.

Tại Bản cáo trạng số 37/CT-VKS ngày 05 tháng 4 năm 2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị cáo Hoàng Trọng N về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay:

- Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã nêu. Bị cáo thừa nhận khi nhìn thấy bà L sang đường bị cáo đã không phanh xe mà cho rằng bà L sẽ dừng lại khi mình bấm còi nên đánh xe sang trái với mục đích là tránh để đi tiếp. Sau khi tai nạn xảy ra, bị cáo cùng gia đình đã bồi thường cho gia đình bị hại tổng số tiền 188.000.000 đồng. Bị cáo biết mình đã sai, đã vi phạm pháp luật. Khi được nói lời sau cùng bị cáo mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

* Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố bị cáo Hoàng Trọng N phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”.

- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự:

- Tuyên bố bị cáo Hoàng Trọng N phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

- Xử phạt bị cáo Hoàng Trọng N từ 12 đến 15 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng. Giao bị cáo cho UBND xã HT giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

- Về vật chứng: Trả lại bị cáo 01 giấy phép lái xe

- Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hiệp Hòa, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

- Đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt đã được Tòa án triệu tập hợp lệ và đã có lời khai đầy đủ trong hồ sơ vụ án. Việc vắng mặt những người này không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Căn cứ vào khoản 1 Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự, Tòa án xét xử vắng mặt những người này.

Về tội danh: Khoảng 07 giờ 00 phút ngày 06/10/2020, Hoàng Trọng N, sinh năm 1977; trú tại Thôn T, xã HT, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang (N có giấy phép lái xe ô tô hạng E, FC) điều khiển xe ô tô 98C-206.37 kéo theo rơ mooc 34R-023.15 trên đường Tỉnh lộ 295B theo hướng Ngã ba TC - xã NS, huyện Hiệp Hòa đi huyện Tân Yên để chở hàng hóa là xi măng về kho hàng tại thôn LC, xã PS, huyện Tân Yên. Khi đi đến khu vực ngã ba giao nhau giữa đường Tỉnh lộ 295B với đường rẽ vào khu đất mới xóm TT thuộc địa phận thôn NT, xã NS, huyện Hiệp Hòa khi gặp Bà Nguyễn Thị L đi từ đường nhánh ra đi sang phần đường ngược chiều do bị cáo không giảm tốc độ, điều khiển xe đi không đúng phần đường của mình (vi phạm khoản 1 Điều 9 Luật giao thông đường bộ) nên xe ô tô do N điều khiển đã đâm vào xe mô tô biển kiểm soát 98D1-109.39 do Bà Nguyễn Thị L điều khiển. Hậu quả, bà L bị chết.

Hành vi của bị cáo đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.

Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang truy tố bị cáo theo tội danh và Điều khoản trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về tính chất hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm những quy định về an toàn giao thông đường bộ, gây thiệt hại đến tính mạng của người khác được pháp luật bảo vệ, làm mất trật tự trị an xã hội. Do vậy cần xử nghiêm bị cáo bằng pháp luật hình sự.

Về mức độ lỗi thì thấy: Bị cáo là người có Giấy phép lái xe, đi đúng tốc độ cho phép nhưng trong quá trình tham gia giao thông đã không tuân thủ đúng các quy định về an toàn giao thông, cụ thể bị cáo không chú ý quan sát, khi gặp bị hại đi sang đường ngược chiều đi với bị cáo thì bị cáo phải giảm tốc độ và đi sát vào lề đường bên phải nhưng bị cáo lại đánh lái sang trái dẫn đến va chạm với Bà Nguyễn Thị L. Trong vụ án này, Bà Nguyễn Thị L là bị hại khi sang đường đã không quan sát, không có tín hiệu xin sang đường, không quan sát dẫn đến va chậm. Do vậy xác định lỗi thuộc về cả bị cáo và bị hại.

Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa hôm nay, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo bồi thường cho gia đình bị hại để khắc phục hậu quả. Gia đình bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Bị cáo có bố đẻ là người có công với cách mạng (được tặng thưởng huân chương chiến sỹ vẻ vang). Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự nên cần giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.

Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Từ những nhận định trên đây, thấy Bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng và được hưởng 04 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo Hoàng Trọng N không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015. Căn cứ vào Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 và Điều 2, Điều 3 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng điều 65 của Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo Hoàng Trọng N có đủ điều kiện được hưởng án treo và chỉ cần cho bị cáo cải tạo tại địa phương cũng đủ điều kiện để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt, biết tuân thủ pháp luật, sống có ích cho gia đình và xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra xem xét do đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu.

Về xử lý vật chứng: Trả lại bị cáo 01 giấy phép lái xe.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều

50; Điều 65 của Bộ luật hình sự . Xử:

1- Tuyên bố bị cáo Hoàng Trọng N phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

2- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Hoàng Trọng N 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Hoàng Trọng N cho UBND xã HT, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm N vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng

- Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 và khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Trả lại bị cáo 01 giấy phép lái xe hạng E,FC mang trên Hoàng Trọng N

- Về án phí: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo Hoàng Trọng N phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 332, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự;

Bị cáo Hoàng Trọng N có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đại diện hợp pháp của bị hại, đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt án hợp lệ.

Cỡ chữ