- Tranh chấp gì? án hình sự — "NGUYỄN VĂN H VÀ ĐỒNG PHẠM - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Bùi Đăng S; Chấp nhận một phần kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Văn H và Phạm Văn T. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 07/2021/HSST ngày 25/01/2021 của Tòa án nhân dân huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên:
- Căn cứ chính? Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 39/2021/HS-PT Ngày 25/6/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Biểu.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn T Hưng và ông Nguyễn Duy Phượng.
- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thủy Quyên - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Hưng Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên toà: Ông Vũ Đức Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 25/6/2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 26/2021/TLPT-HS ngày 05/3/2021 đối với các bị cáo Nguyễn Văn H, Bùi Đăng S và Phạm Văn T, do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 07/2021/HSST ngày 25/01/2021 của Toà án nhân dân huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên.
* Các bị cáo có kháng cáo:
1. Nguyễn Văn H, sinh năm 2000; nơi cư trú: Thôn A, xã B, huyện C, tỉnh Hưng Yên; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ văn hoá: 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Nguyễn Văn T và bà Trần Thị L; tiền án, tiền sự: Chưa có. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/9/2020, đến ngày 20/10/2020 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cho bảo lĩnh, (có mặt).
2. Bùi Đăng S, sinh năm 1999; nơi cư trú: Thôn D, xã E, huyện C, tỉnh Hưng Yên; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ văn hoá: 08/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Bùi Đăng S và bà Trần Thị T; Tiền án, tiền sự: Chưa có;
Nhân thân:
- Ngày 13/11/2015 Công an huyện Khoái Châu xử phạt vi phạm hành chính về hành vi xâm hại đến sức khỏe của người khác.
- Ngày 16/6/2016 bị Công an huyện Khoái Châu xử phạt vi phạm hành chính về hành vi xâm hại đến sức khỏe của người khác.
- Ngày 04/7/2018 bị Công an huyện Khoái Châu xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh nhau.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/9/2020, đến ngày 20/10/2020 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cho bảo lĩnh, (có mặt).
3. Phạm Văn T, sinh năm 1990; nơi cư trú: Số nhà A1, đường G, phường H, quận I, thành phố Hải Phòng; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ văn hoá: 11/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Phạm Văn T và bà Khúc Thị H; Vợ: Nguyễn Thị K (đã ly hôn); con: Có 01 con sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: Chưa có. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 04/9/2020 đến ngày 13/9/2020 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, (có mặt).
* Các bị cáo không kháng cáo:
- Phạm Minh H, sinh năm 1998. Địa chỉ: Thôn K, xã N, huyện M, tỉnh Hưng Yên, (vắng mặt).
- Đỗ Duy S (tức H), sinh năm 1991. Địa chỉ: Thôn O, xã P, huyện C, tỉnh Hưng Yên, (vắng mặt).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Chị Dương Thị H, sinh năm 1976. Địa chỉ: Thôn Q, xã L, huyện C, tỉnh Hưng Yên, (vắng mặt).
- Anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1972,
- Chị Phạm Thị L, sinh năm 1976.
Đều có địa chỉ: Thôn S, xã E, huyện C, tỉnh Hưng Yên, (đều vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
1. Hành vi gây rối trật tự công cộng: Khoảng 00 giờ 15 phút ngày 22/8/2020, Đỗ Duy S (tên gọi khác là Hai), Phạm Văn T, Nguyễn Văn H, Bùi Đăng S, Nguyễn Đức L, Nguyễn Đình D cùng một vài người bạn đang ngồi ăn uống tại Nhà hàng 22 giờ (dãy bàn cạnh Phòng khám đa khoa Yecxanh) ở thôn D, xã E, huyện C. Lúc này, Phạm Minh H đi xe Wave màu trắng một mình đến của quán, trên tay H cầm 01 dao quắm tự chế bằng kim loại tối màu, dài 78cm và 01 kiếm tự chế bằng kim loại, dài khoảng 78cm; cùng lúc, Phạm Hồng H đi bộ từ phía trong Nhà hàng 22 giờ ra gặp H rồi đi luôn đến bàn ăn của S đang ngồi. Tại đây, H cúi xuống gầm bàn dùng tay phải cầm chiếc điếu cày được bọc bên ngoài bằng kim loại màu Bùi Đăng S, dài 56cm giơ lên ném một phát trúng vào vùng sườn bên trái của anh S gây thương tích. Minh H cầm kiếm, dao quắm đến định chém S thì được T và mọi người can ngăn. H cầm một vật màu trắng ném về phía S nhưng không trúng. Thấy H và Minh H đứng dưới lòng đường, T đi ra nói chuyện để can ngăn, còn S đứng cạnh bàn ăn sát Phòng khám Yecxanh. Lúc này, H tiếp tục cầm một vật màu trắng ném về phía S đứng nhưng không trúng. Bùi Đăng S cũng đang ngồi cùng bàn với S dùng tay trái cầm cốc thủy tinh trên bàn ăn ném về phía của Minh H và H. Minh H cầm kiếm, dao quắm chạy từ lòng đường đuổi theo Bùi Đăng S nên Bùi Đăng S và S bỏ chạy ra phía đường. S quay lại dùng tay phải cầm 02 chiếc bát con ném liên tiếp trúng vào người của H rồi cùng Bùi Đăng S và Nguyễn H chạy vào phía trong Nhà hàng 22 giờ. H cầm dao quắm đuổi theo vào đến cửa quán thì bị chị Lê đóng cửa quán lại không cho vào. Phía ngoài đường, T, D và một số người giằng co kiếm và can ngăn Minh H nhưng H và Minh H tiếp tục gây náo loạn đòi đánh nhau với nhóm S.
Khi Bùi Đăng S, S và Nguyễn H chạy vào trong quán nhà chị Lê, S chạy đến khu vực để cốc bia trong quán, cầm hai cốc bia thủy tinh trên hai tay đi về phía cửa quán thì được chị Lê can ngăn. Nguyễn H kéo tay chị Lê ra. S đứng ở trong cửa quán cầm một cốc thủy tinh ném qua cổng về phía H đang đi ngoài đường nhưng không trúng. Bùi Đăng S cũng dùng tay trái ném một cốc bia thủy tinh về phía H và Minh H đứng ngoài đường nhưng không trúng. Khi H cầm dao quắm đi từ ngoài đường vào cửa quán thì bị S cầm cốc bia ném nhưng do vướng khung cửa nên cốc bia bị vỡ. H rút các chai bia ném về phía S và Bùi Đăng S đang đứng. Chị L đẩy S, Bùi Đăng S và Nguyễn H đi vào sâu trong quán nhưng S tiếp tục đi ra chỗ để cốc bia, nhặt và ném liên tiếp nhiều phát về phía Minh H và H. Bùi Đăng S cũng cầm cốc thủy tinh trong quán ném nhiều lần về phía cửa quán nơi H đang đứng, còn H cũng cầm chai bia ném về phía S và Bùi Đăng S đứng trong quán. Trong lúc hai bên ném nhau thì Phạm Văn T đứng ở cửa quán can ngăn không để H vào trong đánh nhau. H trèo lên cổng quán ném một chai bia và một dao quắm vào phía trong quán.
Sự việc xô sát giữa nhóm Minh H, H bên ngoài quán với nhóm của S bên trong quán diễn ra trong vòng hơn 10 phút, hai nhóm xô sát chửi bới gây ồn ã, náo loạn. Các đối tượng dùng kiếm, chai bia và một số đồ vật ném nhau ở khu vực quán khiến vợ chồng anh C, chị L và nhiều người có mặt tại khu vực quán sợ hãi, thời điểm đó là khung giờ ban đêm nên nhiều người dân xung quanh nghe thấy và ra xem, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự an toàn xã hội.Toàn bộ diễn biến hành vi của các bị can đã được hệ thống Camera an ninh của Nhà hàng 22 giờ ghi lại.
Sau khi thực hiện hành vi phạm tội, Phạm Hồng H đã bỏ trốn. Cơ quan CSĐT - Công an huyện Khoái Châu đã ra quyết định truy nã và quyết định tách vụ án đối với bị can H để tiếp tục điều tra xác minh về hành vi Cố ý gây thương tích và Gây rối trật tự công cộng.
2. Hành vi đánh bạc: Quá trình làm việc với Cơ quan điều tra, Phạm Văn T và Nguyễn Văn H đã tự khai nhận về hành vi mua bán số lô số đề của mình như sau:
Phạm Văn T và Nguyễn Văn H là bạn bè quen biết nhau, H biết T có bán số lô với giá 21.500 đồng/01 điểm lô. Hình thức mua bán số lô giữa T và H như sau: Số lô là các cặp số bất kỳ do người chơi chọn từ 00 đến 99. Kết quả thắng thua dựa vào số lô, số đề người mua so sánh với kết quả xổ số kiến thiết miền Bắc mở thưởng vào 18 giờ 15 phút hàng ngày. Khi số lô mà người chơi mua trùng với hai số cuối của 27 giải của kết quả xổ số kiến thiết miền Bắc thì sẽ nhận được số tiền trúng thưởng tương ứng 80.000 đồng/1 điểm lô đã mua.
Ngày 21/8/2020, H có sử dụng 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 6s màu đen, lắp số thuê bao: 0971.212.000 (số thuê bao mang tên Nguyễn Văn H) để nhắn tin tới máy điện thoại nhãn hiệu Iphone 6s màu hồng lắp số thuê bao: 0325.330.950 (số thuê bao của Phạm Văn T) mua các số lô 68,86 mỗi số lô 100 điểm, các số lô 77,72 mỗi số lô 200 điểm hết tổng số tiền 12.900.000 đồng. Sau khi mở thưởng, đối chiếu kết quả ngày 21/8/2020 thì H trúng thưởng số lô 72 bằng 200 điểm tương ứng với số tiền là 16.000.000 đồng. Tổng số tiền T và H đánh bạc với nhau là 28.900.000 đồng.
Đến ngày 23/8/2020, H nhắn tin mua các số lô 45,77 mỗi số lô 320 điểm, các số lô 86,68,36,63 mỗi số lô 20 điểm, các số lô 25,52,02,20 mỗi số lô 10 điểm hết tổng số tiền 16.340.000 đồng. Sau khi mở thưởng, đối chiếu kết quả ngày 23/8/2020 thì H trúng thưởng các số lô (02, 20, 77 - trong đó số 02 về hai lần) tổng được 350 điểm. Số tiền H được thanh toán trúng thưởng là 28.000.000 đồng. Tổng số tiền T và H đánh bạc với nhau là 44.340.000 đồng.
Toàn bộ số tiền mua bán số lô đề với nhau vào các ngày 21/8/2020 và ngày 23/8/2020, T và H đã thanh toán xong với nhau và đã sử dụng số tiền này để tiêu xài cá nhân hết. Ngoài ra, T và H không có hành vi đánh bạc nào khác.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 07/2021/HSST ngày 25/01/2021, Tòa án nhân dân huyện Khoái Châu đã quyết định:
Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 318; khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 38; Điều 58; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 03 năm 06 tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng, 01 năm 06 tháng tù về tội Đánh bạc. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả hai tội là 05 năm tù, được trừ đi 01 tháng 16 ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo còn phải chấp hành 04 năm 10 tháng 14 ngày tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 318; Điều 17; Điều 38; Điều 58; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Bùi Đăng S 02 năm 06 tháng tù được trừ đi 01 tháng 16 ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo còn phải chấp hành 02 năm 04 tháng 14 ngày tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án, về tội Gây rối trật tự công cộng.
Áp dụng: khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 58; Điều 38; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Văn T 01 năm 06 tháng tù, được trừ đi 09 ngày tạm giữ, bị cáo còn phải chấp hành 01 năm 05 tháng 21 ngày tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
Ngoài ra bản án còn quyết định hình phạt đối với các bị cáo Phạm Minh H, Đỗ Văn S, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 02 tháng 02 năm 2021, các bị cáo Nguyễn Văn H, Bùi Đăng S, Phạm Văn T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Các bị cáo đều thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và giữ nguyên nội dung kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho các bị cáo được hưởng án treo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Bùi Đăng S, giữ nguyên bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối với các bị cáo S; áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn H và Phạm Văn T, giảm cho bị cáo Nguyễn Văn H từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng; giảm cho các bị cáo Nguyễn Văn H và Phạm Văn T mỗi bị cáo từ 06 tháng đến 09 tháng tù về tội Đánh bạc; bị cáo S phải chịu án phí hình sự phúc thẩm, các Bị cáo H và T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về tố tụng: Các bị cáo Nguyễn Văn H, Bùi Đăng S, Phạm Văn T kháng cáo trong thời hạn luật định nên kháng cáo của các bị cáo được cấp phúc thẩm xem xét.
. Về nội dung: Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Nguyễn Văn H, Bùi Đăng S, Phạm Văn T nhận tội và khai báo thành khẩn. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp lời khai của các bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm và lời khai trước cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của người làm chứng cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Đã có đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ 00 giờ 20 phút đến 00 giờ 30 phút ngày 22/8/2020, tại khu vực quán bán hàng nhà anh Nguyễn Văn C ở thôn Q, xã E là nơi khu dân cư sinh sống đông đúc, Phạm Hồng H, Phạm Minh H, Đỗ Duy S, Bùi Đăng S và Nguyễn Văn H có hành vi hò hét, chửi bới, dùng dao, kiếm, chai bia, cốc thủy tinh để đánh nhau gây náo loạn khu vực dân cư sinh sống, khiến mọi người trong gia đình anh C và nhiều người dân khu vực xảy ra sự việc hoang mang lo sợ. Ngoài ra, Phạm Phạm Văn T, Nguyễn Văn H còn có hành vi đánh bạc qua hình thức mua, bán số lô đề qua tin nhắn điện thoại, cụ thể: Ngày 21/8/2020, T và H đánh bạc với tổng số tiền là 28.900.000 đồng; ngày 23/8/2020, T và H đánh bạc với tổng số tiền là 44.340.000 đồng.
Bởi các hành vi trên, nên Toà án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Văn H về tội Gây rối trật tự công cộng và tội Đánh bạc theo điểm b khoản 2 Điều 318; khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự; xét xử bị cáo Bùi Đăng S về tội Gây rối trật tự công cộng theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự và xét xử bị cáo Phạm Văn T về tội Đánh bạc theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xem xét bản án sơ thẩm, Hội đồng xét xử thấy: Đối với hành vi gây rối trật tự công cộng, bị cáo Phạm Minh H cùng Phạm Hồng H là người chủ động gây ra sự việc trước đồng thời thực hiện hành vi tích cực nhất nên có vị trí vai trò cao nhất, tiếp đến là các bị cáo Đỗ Duy S, Bùi Đăng S, sau cùng là bị cáo Nguyễn Văn H có vị trí vai trò vai trò thấp nhất. Ngoài ra bị cáo Bùi Đăng S có nhân thân xấu, bị cáo Nguyễn Văn H có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, nhưng khi áp dụng hình phạt Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 03 năm 06 tháng tù cao hơn mức hình phạt Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Bùi Đăng S 02 năm 06 tháng tù là không phù hợp.
. Xét kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Văn H, Bùi Đăng S, Phạm Văn T, Hội đồng xét xử xét thấy:
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm trật tự công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn. Do đó, cần phải xử lý các bị cáo nghiêm minh theo quy định của pháp luật để răn đe, cải tạo, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
Tòa án cấp sơ thẩm đã phân tích, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; áp dụng đầy đủ, chính xác các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và xem xét nhân thân của từng bị cáo.
Đối với bị cáo Bùi Đăng S mức hình phạt 02 năm 06 tháng tù cấp sơ thẩm đã xử phạt là phù hợp, đúng với hành vi phạm tội của bị cáo. Xét, bị cáo S có nhân thân xấu đã nhiều lần bị xử phạt vi phạm hành chính về các hành vi đánh nhau, xâm phạm đến sức khỏe người khác, có vai trò tham gia tích cực trong vụ án gây rối; tại cấp phúc thẩm bị cáo không được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới. Do đó, kháng cáo của bị cáo Bùi Đăng S không có căn cứ để chấp nhận.
Đối với bị cáo Nguyễn Văn H và Phạm Văn T, thì thấy Bị cáo H bị xét xử trong cùng một lần về hai tội, bị cáo T phạm tội đánh bạc 02 lần nên đều không đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, tại cấp phúc thẩm các bị cáo Nguyễn Văn H, Phạm Văn T và gia đình các bị cáo đều có đơn trình bày hoàn cảnh gia đình khó khăn, xin giảm nhẹ hình phạt, đơn được chính quyền địa phương xác nhận, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới các bị cáo được hưởng theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xét thấy, tại cấp phúc thẩm các bị cáo Nguyễn Văn H và Phạm Văn T đều được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới nên có căn cứ chấp nhận một phần kháng cáo của các bị cáo, Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tại phiên tòa có căn cứ chấp nhận.
. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên Hội đồng xét xử không xem xét.
. Về án phí: Bị cáo Bùi Đăng S kháng cáo không được chấp nhận nên phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Bị cáo Nguyễn Văn H, Phạm Văn T kháng cáo được chấp nhận một phần nên không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 343; điểm a, b khoản 1, khoản 2 Điều 355; Điều 356; điểm c khoản 1 Điều 357; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Bùi Đăng S; Chấp nhận một phần kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Văn H và Phạm Văn T. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 07/2021/HSST ngày 25/01/2021 của Tòa án nhân dân huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên:
- Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Bùi Đăng S.
- Xử phạt: Bị cáo Bùi Đăng S 02 năm 06 tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng, được trừ đi 01 tháng 16 ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo còn phải chấp hành 02 năm 04 tháng 14 ngày tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
- Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 318; khoản 1 Điều 321; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; Điều 58; điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn H.
- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn H 02 năm 06 tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng và 09 tháng tù về tội Đánh bạc. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả hai tội là 03 năm 03 tháng tù, được trừ đi 01 tháng 16 ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo còn phải chấp hành 03 năm 01 tháng 14 ngày tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
- Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Phạm Văn T.
- Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn T 09 tháng tù về tội Đánh bạc, được trừ đi 09 ngày tạm giữ bị cáo còn phải chấp hành 08 tháng 21 ngày tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
2. Về án phí: Bị cáo Bùi Đăng S phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm. Các bị cáo Nguyễn Văn H, Phạm Văn T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Hưng Yên; - Phòng HSNV - CA tỉnh Hưng Yên; - TAND,VKSND, CA huyện Khoái Châu; - Chi cục THADS huyện Khoái Châu; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án./. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Biểu |