vanban.org

Bản án 39/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Út.

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho bà Nguyễn Thị Út được ly hôn với ông Huỳnh Văn Sự. Về con chung: Tiếp tục giao cháu Huỳnh Nguyễn Thảo Nhi, sinh ngày 29/01/2011 được trực tiếp nuôi dưỡng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "NGUYEN THI U - HUYNH VAN S"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Út.
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ BÌNH MINH
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 39/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 21 - 6 - 2021
V/v xin ly hôn và nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BÌNH MINH, TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Khắc Toàn

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lương Phi Hùng

2. Ông Trần Công Lập

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Tuyết Hồng – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Bình Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Minh tham gia phiên toà: thuộc trường hợp không tham gia.

Trong ngày 21 tháng 6 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Bình Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 08/2021/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 01 năm 2021 về việc “xin ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2021/QĐXXST-HNGĐ, ngày 19 tháng 5 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên toà số 30/2020/QĐST-HNGĐ, ngày 07/6/2021 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Út, sinh năm 1974. Vắng mặt.

Bị đơn: Ông Huỳnh Văn Sự, sinh năm 1972. Vắng mặt.

Địa chỉ: Tổ 12, ấp Đông Thạnh B, xã Đông Thạnh, thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại Đơn khởi kiện đề ngày 02/12/2020 của nguyên đơn Nguyễn Thị Út trình bày: Do quen biết nên vào năm 2013 bà và ông Huỳnh Văn Sự tiến tới hôn nhân, có tổ chức đám cưới và có đăng ký kết hôn, được Uỷ ban nhân dân xã Đông Thạnh cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 06/6/2013. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, về sau phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, thường xuyên cải vã, đời sống vợ chồng không thể kéo dài, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Nay bà Út xin được ly hôn với ông Sự.

Về con chung: Giữa bà Út và ông Sự có một con chung tên Huỳnh Nguyễn Thảo Nhi, sinh ngày 29/01/2011, sau khi ly hôn bà Út xin được trực tiếp nuôi dưỡng không yêu cầu ông Sự cấp dưỡng.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về trình tự thủ tục tố tụng: Tại phiên toà, Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt, Bị đơn đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không rõ lý, Toà án tống đạt và niêm yết đầy đủ các văn bản tố tụng như: Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa, Giấy triệu tập. Do đó, căn cứ theo khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì việc vắng mặt của đương sự nêu trên là không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử.

Về quan hệ hôn nhân: Giữa bà Út và ông Sự do tự quen biết nhau rồi tiến tới hôn nhân, có tổ chức đám cưới, có đăng ký kết hôn và được Uỷ ban nhân dân xã Đông Thạnh cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 06/6/2013, thời gian đầu chung sống hạnh phúc, về sau phát sinh mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm, thường xuyên cải vã, đời sống chung không hạnh phúc, không thể kéo dài, không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau, nên bà Út xin được ly hôn với ông Sự.

Từ đó cho thấy, hôn nhân giữa bà Út và ông Sự đã rơi vào tình trạng trầm trọng, không còn khả năng đoàn tụ, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Út.

Về con chung: Giữa bà Út và ông Sự có 01 con chung tên Huỳnh Nguyễn Thảo Nhi, sinh ngày 29/01/2011, bà Út xin được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nhi. Xét yêu cầu này của bà Út là có căn cứ nên Hội đồng xét xử quyết định giao cháu Huỳnh Nguyễn Thảo Nhi cho bà Út được trực tiếp nuôi dưỡng.

Ông Huỳnh Văn Sự không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom chăm sóc con chung không ai được cản trở.

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Nguyễn Thị Út chưa yêu cầu nên ông Sự chưa phải cấp dưỡng.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà Út không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà Út phải nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 56, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Út.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho bà Nguyễn Thị Út được ly hôn với ông Huỳnh Văn Sự.

2. Về con chung: Tiếp tục giao cháu Huỳnh Nguyễn Thảo Nhi, sinh ngày 29/01/2011 được trực tiếp nuôi dưỡng.

Ông Huỳnh Văn Sự không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom chăm sóc con chung không ai được cản trở.

3. Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Nguyễn Thị Út chưa yêu cầu nên ông Sự chưa phải cấp dưỡng.

4. Về tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra giải quyết.

5. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Buộc bà Nguyễn Thị Út phải nộp 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Bà Út đã nộp tạm ứng số tiền 300.000 đồng, khấu trừ vào số tiền án phí hôn nhân sơ thẩm theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0010656, ngày 14/01/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Bình Minh. Do đó, bà Út đã nộp xong.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

6. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, báo cho các đương sự biết, được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt, thời hạn kháng cáo là 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Cỡ chữ