- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Kiều ly hôn Hưng"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
- Căn cứ chính? Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN TỈNH BẮC GIANG Bản án số: 39/2021/HNGĐ-ST Ngày 10/8/2021 V/v: “tranh chấp hôn nhân và gia đình”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Duyên
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Lâm Giang; Ông Nguyễn Quốc Sửu.
Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Xuân Trường – Thẩm tra viên
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 8 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 132/2021/TLST - HNGĐ ngày 28 tháng 6 năm 2021 về việc tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 151/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 7 năm 2021 và quyết định hoãn phiên tòa số 88/2021/QĐST – HNGĐ ngày 04/8/2021 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Long Thị K, sinh năm 1994 (có mặt)
Nơi ĐKHKTT: Thôn Y, xã Cao X, huyện Tân Y, tỉnh Bắc G.
Nơi ở hiện nay: Thôn Trại H, xã Hồng K, huyện Yên Th, Bắc G.
- Bị đơn: Anh Đặng Văn H, sinh năm 1993 (có mặt)
Nơi cư trú: Thôn Y, xã Cao X, huyện Tân Y, tỉnh Bắc G.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và các lời khai tiếp theo, nguyên đơn là Chị Long Thị K trình bày:
Chị kết hôn với anh H năm 2018 trước khi kết hôn có tìm hiểu nhau trên cơ sở tự nguyện rồi đăng ký kết hôn tại UBND xã Cao X. Thời gian vợ chồng chung sống hạnh phúc đến 2019 năm thì phát sinh mẫu thuẫn. Nguyên nhân là do anh H chơi bời không lo làm ăn kinh tế chị đã nhiều lần khuyên bảo nhưng anh H không thay đổi mà vẫn tiếp tục lấn sâu vào còn đường cờ bạc dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi nhau làm mâu thuẫn càng thêm trầm trọng, không thể hàn gắn được. Đến tháng 02/2021 chị về nhà bố mẹ đẻ sống, vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay không ai quan tâm gì nhau nữa. Anh H có đến đón chị về nhưng chị thấy tình cảm không thể hàn gắn được. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn và xin được ly hôn Anh Đặng Văn H.
- Về nuôi dưỡng con chung: Vợ chồng chị có 01 con chung là Đặng Thị Ngọc D, sinh ngày 12/3/2019 hiện nay con đang ở với anh H. Khi ly hôn chị xin nuôi dưỡng con chung, chị không yêu cầu giải quyết về cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản, quyền và nghĩa vụ chung về tài sản, công nợ công sức đóng góp, ruộng canh tác: Chị không yêu cầu xem xét, giải quyết.
Tại phiên tòa Chị K giữ nguyên yêu cầu.
Tại bản tự khai ngày 09/7/2021 và tại phiên tòa bị đơn là Anh Đặng Văn H trình bày: Anh kết hôn với Chị K năm 2018 có đăng ký kết hôn tại UBND xã Cao X. Sau khi cưới vợ chồng chung sống hạnh phúc đến cuối năm 2020 anh có tham gia đánh bạc qua mạng nên vợ chông có xảy ra mâu thuẫn Chị K bỏ về nhà mẹ đẻ từ đó đến nay anh đã nhiều lần đến đón nhưng Chị K vẫn không về, vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay. Chị K có đơn ly hôn anh đề nghị Chị K cho anh cơ hội để vợ chồng đoàn tụ vì anh xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn nên Chị K xin ly hôn anh không đồng ý.
- Về nuôi dưỡng con chung: vợ chồng anh có 01 con chung là Đặng Thị Ngọc D, sinh ngày 12/3/2019 hiện đang ở với anh. Khi ly hôn xin được nuôi dưỡng con chung nên anh không đồng ý để Chị K nuôi dưỡng con, anh không yêu cầu giải quyết về cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung, quyền và nghĩa vụ chung về tài sản, công sức đóng góp, ruộng canh tác: Anh không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đảm bảo theo quy định.
Đối với những người tham gia tố tụng: Các đương sự đã chấp hành đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn. Xử cho Chị Long Thị K được ly hôn Anh Đặng Văn H, giao cho Chị Long Thị K nuôi dưỡng con chung, Chị K phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án và thẩm tra chứng cứ tại phiên toà, sau khi nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền giải quyết, thủ tục tố tụng: Chị K khởi kiện yêu cầu ly hôn và con chung với anh H có nơi cư ĐKHK và nơi ở tại Thôn Y, xã Cao X, huyện Tân Y, tỉnh Bắc G. Tòa án nhân dân huyện Tân Yên đã thụ lý giải vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình là đúng pháp luật, đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành hòa giải nhưng không thành nên đưa vụ án ra xét xử là đúng quy định.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị K và anh H kết hôn năm 2018 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Cao X, huyện Tân Yên nên hôn nhân giữa anh, chị là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, anh, chị đã có thời gian chung sống hạnh phúc sau đó vợ chồng nảy sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh H chơi bời, chị đã khuyên bảo nhưng anh H không nghe. Chị K, anh H mâu thuẫn trầm trọng vào tháng 02/2021 dẫn đến việc Chị K đã về nhà bố mẹ đẻ Chị K ở thôn Trại Hồng, xã Hồng Kỳ, huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang, vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay không ai quan tâm nhau nữa. Nay Chị K xác định không còn tình cảm với anh H nên đề nghị xin được ly hôn anh H. Tại phiên tòa anh H không đồng ý ly hôn nhưng cũng không có biện pháp nào hàn gắn tình cảm vợ chồng, anh thừa nhận có đến đón nhiều lần nhưng Chị K không về sống với anh. Hội đồng xét xử thấy, mâu thuẫn giữa Chị K và anh H đã lầm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, cần xử cho Chị K ly hôn anh H là phù hợp.
[3] Về nuôi dưỡng con chung: vợ chồng Chị K, anh H có 01 con chung là Đặng Thị Ngọc D, sinh ngày 12/3/2019. HĐXX thấy cháu Diệp con nhỏ dưới 36 tháng tuổi nên cần sự chăm sóc của người mẹ hơn nữa Chị K có nguyện vọng được nuôi dưỡng, chăm sóc con chung do vậy để đảm bảo quyền lợi mọi mặt của con chung cần giao con chung cho Chị K nuôi dưỡng. HĐXX căn cứ khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình giao cho Chị K được nuôi dưỡng con chung là phù hợp.
- Vê yêu cầu cấp dưỡng nuôi con: Chị K, anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết về vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung nên HĐXX không xem xét.
Sau khi ly hôn, anh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở anh H thực hiện quyền, nghĩa vụ này.
[4] Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản, công sức đóng góp trong thời gian ở chung, ruộng canh tác: Chị K, anh H không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[5] Về án phí: Chị K phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 146; khoản 4 Điều 147; Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình;
Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Long Thị K được ly hôn Anh Đặng Văn H.
2. Về con chung: Giao cho Chị Long Thị K được nuôi dưỡng con chung là Đặng Thị Ngọc D, sinh ngày 12/3/2019.
- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Không xem xét giải quyết.
Sau khi ly hôn anh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở anh H thực hiện quyền, nghĩa vụ này
- Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản, công sức đóng góp trong thời gian ở chung, ruộng canh tác: Chị K, anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
3. Về án phí: Chị Long Thị K phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Được trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2020/0000328 ngày 28 tháng 6 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Yên. Xác nhận Chị Long Thị K đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bắc Giang; - VKSND huyện Tân Yên; - CCTHADS huyện Tân Yên; - UBND xã Cao Xá; - Các đương sự; - Lưu. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Nguyễn Lâm Giang Nguyễn Quốc Sửu | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Duyên THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Duyên |