vanban.org

Bản án 39/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị H1 được ly hôn với ông Võ Thành L.

Về nuôi con chung: Bà Nguyễn Thị H1 được trực tiếp nuôi con chung tên Võ Ngọc Lan A, sinh ngày 28-4-2013 và Võ Anh Q, sinh ngày 15-7-2016, đang sống với bà H1, theo nguyện vọng của con chung. Ông Võ Thành L không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Ông L được quyền thăm nom, chăm sóc con chung; Khi cần t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị H1 - Võ Thành L"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị H1 được ly hôn với ông Võ Thành L.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN H

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH LONG AN
Bản án số: 39/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 06-8-2021
Về việc “Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hùng Vương.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đoàn Văn Nhanh;

2. Ông Nguyễn Văn Tư.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Nhàn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Long An.

Ngày 06 tháng 8 năm 2021, tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện H xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 310/2020/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 12 năm 2020 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 6 năm 2021 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H1 - Sinh năm 1990 - Địa chỉ: Ấp ML, xã MTT, huyện H, tỉnh Long An (Vắng mặt).

2. Bị đơn: Ông Võ Thành L - Sinh năm 1990 - Địa chỉ: Ấp ML, xã MTT, huyện H, tỉnh Long An (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện đề ngày 01 tháng 12 năm 2020, các văn bản tiếp theo, nguyên đơn bà Nguyễn Thị H1 trình bày và yêu cầu:

Bà và ông Võ Thành L cưới nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn ĐT ngày 09-4-2012; Chung sống đến năm 2017 phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong quản lý kinh tế, ông L ngược đãi bà và có quan hệ với người phụ nữ khác. Bà và ông L đã ly thân từ tháng 11 năm 2020 đến nay.

Về hôn nhân: Yêu cầu ly hôn với ông Võ Thành L;

Về con chung: Bà và ông L có 02 con chung tên Võ Ngọc Lan A, sinh ngày 28-4-2013 và Võ Anh Q, sinh ngày 15-7-2016, đang sống chung với bà; Bà yêu cầu được trực tiếp nuôi 02 con chung, không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung: Để tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Vụ án không tiến hành hòa giải đoàn tụ được do bị đơn là ông Võ Thành L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt.

- Ngày 05-02-2021, bà Nguyễn Thị H1 có đơn xin xét xử vắng mặt;

- Bị đơn là ông Võ Thành L vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do, nên Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: [1] Bà Nguyễn Thị H1 khởi kiện “Tranh chấp ly hôn” đối với ông Võ Thành L; Tòa án nhân dân huyện H tỉnh Long An thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự. [2] Bà H1 có đơn xin xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; [3] Trong thời gian Tòa án thụ lý vụ án, bị đơn là ông L được tống đạt hợp lệ các thủ tục tố tụng của Tòa án, nhưng không có ý kiến, không cung cấp tài liệu, chứng cứ bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của ông, không tham gia hòa giải và vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Hội đồng xét xử vụ án theo quy định tại khoản 3 Điều 228, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự 2015. [4] Tại phiên tòa, nguyên đơn không có đơn rút yêu cầu khởi kiện, các đương sự không thỏa thuận được với nhau việc giải quyết toàn bộ nội dung vụ án. [5] Xét về hôn nhân: [5.1] Bà H1 và ông L chung sống có đăng ký kết hôn ngày 09-4-2012 tại Ủy ban nhân dân thị trấn ĐT, huyện H, tỉnh Long An. Quan hệ hôn nhân giữa bà H1 và ông L là hôn nhân hợp pháp theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình. [5.2] Xét yêu cầu ly hôn của bà H1: Bà H1 và ông L xảy ra mâu thuẫn từ năm 2017, do bất đồng quan điểm trong quản lý kinh tế, ông L ngược đãi bà H1 và có quan hệ với người phụ nữ khác, đã ly thân từ tháng 11-2020 đến nay (theo trình bày của bà H1); Từ khi xảy ra mâu thuẫn và ly thân đến nay bà H1 và ông L vẫn sống ly thân, mỗi người tự lo cho bản thân, không quan tâm chăm sóc nhau. Mâu thuẫn giữa bà H1 và ông L đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Việc bà H1 yêu cầu ly hôn là có căn cứ, phù hợp theo quy định tại điều 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 nên chấp nhận. Ông L không có ý kiến nên không có căn cứ xem xét.

Về nuôi con chung:

Xét con chung tên Võ Ngọc Lan A, sinh ngày 28-4-2013 và Võ Anh Q, sinh ngày 15-7-2016, đang sống với bà H1, nguyện vọng muốn sống chung bà H1, việc thay đổi người nuôi dưỡng, môi trường sống, học tập sẽ ảnh hưởng đến tâm lý của con chung, nên chấp nhận theo yêu cầu của bà H1 là phù hợp theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; Ông L không có ý kiến nên không có căn cứ xem xét.

Bà H1 không yêu cầu được cấp dưỡng nuôi con chung là tự nguyện, phù hợp quy định tại Điều 82 Luật Hôn nhân gia đình nên ghi nhận.

Ông L được quyền thăm nom, chăm sóc con chung; Khi cần thiết, vì lợi ích của con chung, bà H1 và ông L được quyền yêu cầu thay đổi tình trạng nuôi con chung và việc cấp dưỡng nuôi con chung là phù hợp theo quy định tại các Điều 83, 84, 107 và 110 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về chia tài sản chung: Bà H1 trình bày để vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết, ông L không có ý kiến nên không có căn cứ xem xét. Nếu xảy ra tranh chấp, các đương sự được quyền khởi kiện vụ án khác theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự là phù hợp quy định tại Điều 59 Luật Hôn nhân gia đình.

Về chia nợ chung: Bà H1 trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, ông L không có ý kiến nên không có căn cứ xem xét. Nếu xảy ra tranh chấp, các đương sự được quyền khởi kiện vụ án khác theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự là phù hợp quy định tại Điều 60 Luật Hôn nhân gia đình.

Về án phí, căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, xét thấy: Bà H1 là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp, Bà H1 đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm; Ông L không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, điểm b khoản 2 Điều 227, các Điều 147, 266, 271 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Các Điều 56, 59, 60, 81, 82, 83, 84, 107 và 110 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị H1 được ly hôn với ông Võ Thành L.

2. Về nuôi con chung: Bà Nguyễn Thị H1 được trực tiếp nuôi con chung tên Võ Ngọc Lan A, sinh ngày 28-4-2013 và Võ Anh Q, sinh ngày 15-7-2016, đang sống với bà H1, theo nguyện vọng của con chung. Ông Võ Thành L không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Ông L được quyền thăm nom, chăm sóc con chung; Khi cần thiết, vì lợi ích của con chung, bà H1 và ông L được quyền yêu cầu thay đổi tình trạng nuôi con chung và việc cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình. 3. Về chia tài sản chung: Để tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. 4. Về chia nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. 5. Về án phí: Bà Nguyễn Thị H1 phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp (Biên lai thu số 0008911 ngày 10-12-2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện H), bà H1 đã nộp đủ án phí. 6. Các đương sự vắng mặt, được quyền kháng cáo bản án theo thủ tục phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ