- Tranh chấp gì? án hình sự — "249.Tội tàng trữ trái phép chất ma túy (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015) - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều…"
- Tòa quyết gì? 1/ Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Mai Đình C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 39/2020/HSST Ngày: 26 - 5 - 2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Xuân Hòa.
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Phạm Văn Sơn;
2/ Ông Điểu Hoàng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Viển – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Đ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Vũ Xuân Trường - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 5 năm 2020 tại trụ sở Tòa án; Tòa án nhân dân huyện Đ đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 51/2020/HSST ngày 08 tháng 5 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/2020/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 5 năm 2020 đối với bị cáo:
Họ và tên: Mai Đình C - sinh năm 1992 tại Đồng Nai.
Nơi cư trú: Ấp 6, xã G, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 01/12; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật; con ông Mai Xuân H - sinh năm 1973 và bà Huỳnh Thị N - sinh năm: 1976; bị cáo chưa vợ, con; tiền sự: Không;
Tiền án: Ngày 27/9/2018, bị Tòa án nhân dân thị xã D, tỉnh B tuyên phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 12/3/2019.
Bị bắt tạm giam từ ngày 24/02/2020 đến nay “có mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
- 1 -
Bị cáo Mai Đình C là đối tượng nghiện ma tuý từ tháng 05/2019. Vào 22 giờ ngày 21/12/2019, C đến phòng trọ của đối tượng tên M (thuộc khu phố Hiệp Quyết, thị trấn Đ) và sử dụng chung ma túy cùng M, Ngô Trương Tấn H và bạn của M; cũng tại đây, C đã gặp Ú - ở cùng dãy phòng trọ với M. Do trước đó C đã hứa cho Ú 01 con gà nên khi gặp Ú, C mượn xe mô tô biển số 60B4-345.97 của Hđể đi vào nhà bà nội C bắt gà đưa cho Ú. Sau khi đã đưa gà cho Ú, C tiếp tục mượn xe của Hoàng để vào rẫy tắt nước tưới. Một lúc sau Ú điện thoại nói tặng cho C 01 bịch ma túy mà trước đó Ú đã bí mật cuộn bằng băng keo đen và dán lên bên trái của bửng xe. Khi biết có ma túy gắn trên xe mô tô, C đồng ý nhận nhưng vẫn giữ nguyên bịch ma túy trên xe và ngủ qua đêm tại rẫy.
Đến khoảng 04 giờ 20 phút sáng ngày 22/12/2019, C điều khiển xe mô tô về lại thị trấn Đ để trả xe cho H. Khi đến khu vực tổ 6, ấp H, xã N thì có lực lượng Công an tuần tra yêu cầu dừng xe để kiểm tra. Sợ bị phát hiện, C dùng tay gỡ bịch ma túy trên xe ném xuống đất thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang thu giữ 01 bịch nylon được hàn kín bên trong có chứa tinh thể màu trắng. Vật chứng được niêm phong có chữ ký của Mai Đình C, người chứng kiến Mai Thái S và dấu mộc đỏ của Công an xã Ngọc Định.
Căn cứ Bản kết luận giám định số 1715/KLGĐ-PC09 ngày 30/12/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Đồng Nai xác định: Mẫu tinh thể màu trắng có 0,1568 gam Methamphetamine.
Tại bản Cáo trạng số 45/CT-VKSĐQ ngày 06 tháng 5 năm 2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ đã truy tố bị cáo Mai Đình C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, việc tranh tụng diễn ra như sau:
- Kiểm sát viên giữ nguyên Cáo trạng và đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự và đề nghị xử phạt bị cáo C từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.
- Bị cáo Mai Đình C nhận tội và xin giảm nhẹ hình phạt. Bị cáo xác định ngoài các tình tiết giảm nhẹ như Kiểm sát viên vừa nêu thì bị cáo không còn tình tiết nào khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Mai Đình C không có ý
- 2 -
kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Căn cứ để kết tội đối với bị cáo Mai Đình C:
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Mai Đình C đã khai nhận tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng và các chứng cứ có trong hồ sơ nên Hội đồng xét xử đã đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 04 giờ 20 phút ngày 22/12/2019 tại đường liên xã thuộc ấp Hòa Hiệp, xã Ngọc Định, huyện Đ, bị cáo C có hành vi tàng trữ 0.1568 gam Methamphetamine thì bị Công an huyện Đ bắt quả tang. Hành của bị cáo Mai Đình C đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự; Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ truy tố bị cáo tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo điều luật trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[3] Mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội:
Xét thấy: Ma túy là hiểm họa của mọi người, mọi nhà; là loại chất cấm lưu hành, do nhà nước độc quyền quản lý; bị cáo Mai Đình C cũng nhận thức được tác hại của ma túy đối với bản thân, gia đình và xã hội nhưng không quyết tâm từ bỏ mà lại tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng. Do đó Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng mức hình phạt nghiêm là cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để trừng phạt và giáo dục bị cáo, đồng thời phòng ngừa chung cho xã hội.
[4] Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo Mai Đình C thì thấy rằng: Bị cáo đang có tiền án nay lại phạm tội phải chịu tình tiết tăng nặng “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5] Về biện pháp tư pháp:
- 01 gói ma túy niêm phong số 1715/KLGĐ-PC09 ngày 30/12/2019: là chất cấm lưu hành nên Tòa án tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- 01 xe mô tô biển số 60B4-345.97 thuộc sở hữu của ông Trần Huy H (là cha dượng của đối tượng Ngô Trương Tấn H. Đối tượng H mượn xe của ông H đi chơi sau đó cho bị cáo C mượn xe nhưng ông Trần Huy H không biết. Cơ quan điều tra đã trao trả cho chủ sở hữu nên Tòa án không đặt ra xem xét.
- Đối tượng Ngô Trương Tấn H là người nghiện ma tuý, Cơ quan điều tra đã chuyển hồ sơ cho Công an quận T, thành phố Hồ Chí Minh để lập hồ sơ đưa đi cai nghiện bắt buộc là đủ nghiêm.
- Đối tượng “M”, “Ú” là những người liên quan đến việc sử dụng ma túy, tàng trữ ma túy nhưng qua điều tra không làm rõ được nhân thân, lai lịch các đối tượng nên tách ra, làm rõ sẽ xử lý sau.
- 3 -
[5] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát: Xét ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp và có căn cứ nên được chấp nhận toàn bộ.
[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
1/ Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Mai Đình C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2/ Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Mai Đình C 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày 24/02/2020.
3/ Về biện pháp tư pháp: Tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong mẫu vật ma túy sau giám định số 1715/KLGĐ-PC09 ngày 30/12/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự
- Công an tỉnh Đồng Nai.
(Vật chứng do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/5/2020).
4/ Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5/ Quyền kháng cáo: Bị cáo Mai Đình C được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Nai. - VKSND tỉnh Đồng Nai. - VKSND huyện Đ. - Công an huyện Đ. - Chi cục THADS huyện Đ. - Bị cáo. - Lưu hồ sơ, VP. - 4 - | Lê Xuân Hòa |