vanban.org

Bản án 39/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Cà Mau, tỉnh Cà Mau Tuyên án 28/02/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu T phạm tội “Đánh bạc”

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu T 07 (bảy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 12/11/2019. Buộc bị cáo T phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (chưa nộp). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Họ và tên: Nguyễn Hữu T, Tên gọi khác: Tg, sinh năm: 1984, tại Cà Mau; Nơi cư trú: ấp 8, xã K A, huyện U M, tỉnh Cà Mau - phạm tội đánh bạc…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu T phạm tội “Đánh bạc”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CÀ MAU
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 39/2020/HS-ST
Ngày 28 – 02 – 2020

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Cẩm Đào

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Huỳnh Minh Bền.

Ông Võ Thanh Liêm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thúy Dung, là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà Phạm Trúc Mai – Kiểm sát viên.

Trong các ngày 27 và 28 tháng 02 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 13/2020/TLST-HS ngày 15 tháng 01 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 86/2020/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 02 năm 2020 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Hữu T, Tên gọi khác: Tg, sinh năm: 1984, tại Cà Mau; Nơi cư trú: ấp 8, xã K A, huyện U M, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; C tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H (còn sống) và bà Nguyễn Hồng T (còn sống); vợ con: chưa có; Tiền án: không; Tiền sự: không. Nhân thân: Ngày 27/06/2019, Công an huyện Thới Bình xử phạt 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, nộp phạt xong ngày 05/7/2019; Bị bắt tạm giữ: từ ngày 12/11/2019 đến ngày 15/11/2019 (bắt truy nã); Tạm giam: từ ngày 15/11/2019 đến nay, tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Cà Mau.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào ngày 07/9/2018, Nguyễn Hữu T và Trần Bá A sinh năm 1994, ngụ khóm 3, phường 9, thành phố C đang ở nhà của Nguyễn Văn B (B Nhớt) sinh năm 1972, ngụ ấp Gành Hào 2, xã Hòa T, thành phố C cũng là nơi ở của T thì Trịnh Bảo C sinh năm 1981 ngụ ấp Tân Phong B, xã H, thành phố C điện thoại cho Nguyễn Hữu T hẹn nhau đá gà ăn tiền. T rủ A cùng đi đá gà ở nhà C. A đồng ý A bắt 01 con gà chuối 2,6 kg (gà của Tài đem gửi T nuôi tại nhà B) rồi cùng với T đi đến nhà B.

Khi đến nhà C thì T và A đi ra sau nhà C, có sân đất trống, bằng phẳng là nơi đá gà. Trong sân lúc này khoảng 10-12 người gồm T, A, C, Võ Hạ Quy Đ, Hứa Văn N và một số người khác (không rõ họ tên và địa chỉ). Trên sân có một con gà của Tài và 01 con gà khác của C, trên sân có sẵn cân đồng hồ 5 kg, băng keo, cựa sắt (do Quốc chuẩn bị từ trước). A lên cựa cho gà của A Sau khi cân thì xác định cả hai con gà cùng 2,6 kg nên tỷ lệ đá là 1:1 (một ăn, một thua, cược bao nhiêu ăn bấy nhiêu). Sau khi cân gà, lên cựa thì B, T và A ra độ như sau: B kê đá sổ là 2.000.000 đồng. A, T đồng ý. Cả hai bên thả gà, lúc gà đang đá thì A, T cược thêm 4.000.000 đồng nữa, nâng tổng số tiền cược là 6.000.000 đồng (trong đó N gửi C cược là 500.000 đồng) đá khoảng 02 phút thì gà của A chết. A, T thua độ 6.000.000 đồng nhưng T và A chưa chung tiền mà hẹn chiều trong ngày sẽ chung tiền cho C.

Sau khi thua trận thứ nhất, thì T cùng A ra về. Trên đường về thì B điện thoại cho T hỏi còn gà 2,6 kg nữa không, qua đá tiếp. T hỏi A thì A đồng ý đá tiếp nên T và A về nhà (nhà Nguyễn Văn Ú) bắt 01 con gà điều 2,6 kg (đây là gà của T) rồi cùng nhau qua nhà B. Lúc này, tại sân đá gà nhà B có B, T, A, Q và Đ, N và một số người khác (không biết rõ họ tên và địa chỉ). Trên sân có một con gà của T và 01 con gà khác của C, có sẵn cân đồng hồ 5 kg, băng keo, cựa sắt (do B chuẩn bị trước). A lên cựa cho gà của T. Sau khi cân thì xác định cả hai con gà cùng 2,6 kg nên tỷ lệ đá là 1:1 (như trận thứ nhất). Tỷ lệ cược đá sổ là 2.000.000 đồng, cả hai bên đồng ý. Trong lúc đá thì A và T cùng cược thêm 8.000.000 đồng nữa, nâng tổng số tiền cược là 10.000.000 đồng (trong đó N gửi C cược là 500.000 đồng). Khoảng 02 phút sau thì gà của T chết, T và A thua 10.000.000 đồng. Sau khi thua thì T và A hẹn với C đến chiều cùng ngày sẽ chung tiền và đi về. Đến chiều ngày 07/9/2018, C điện thoại T đòi tiền thì T vẫn chưa chung tiền thua độ cho C. Sáng ngày 08/9/2018, C điện thoại cho T nhiều lần không nghe máy, C điện thoại cho Hứa Văn N đến nhà B Nhớt tìm T đòi tiền. N rủ Phạm Đình V (Cu M, chưa rõ nhân thân và địa chỉ), cùng hai đối tượng khác đến nhà B Nhớt để tìm T đòi tiền. Khi đến thì T ở nhà một mình, nhóm của N đánh T làm T bị thương ở chân rồi bắt lên xe, chở ra quán cà phê A K dưới chân cầu Hòa T, xã Hòa T, thành phố C. Tại đây, N điện thoại báo cho C là đang ở cùng T tại quán cà phê. C điện thoại cho Võ Hạ Quy Đ, rủ Đ đến để đòi tiền. Đ đồng ý. C chở Đ bằng xe biển số 69K1-4499 của C. Khi đến quán thì Quy Đ dùng chân đá hai cái vào người T còn C thì dùng tay đánh T. Mục đích là ép T trả tiền. T điện thoại cho A, kêu A đem tiền vào trả cho C thì A nói để A đem vào trả. Đợi được một lúc thì C kêu T lên xe cho C chở về nhà B Nhớt đợi A đem tiền vào. C chở T cùng nhóm Đ, N đi về nhà B Nhớt. Lúc này B Nhớt đã về nhà nhưng T sợ không dám nói cho B Nhớt nghe. Khi chở T về đến nhà thì C kêu T vào nhà tắm và điện thoại cho A đem tiền vào. Khi T tắm thì C đứng gần đó, còn nhóm N, Đ thì đi vòng vòng bên ngoài. T điện thoại cho A kêu mang tiền vào. Lúc này, C đòi bắt 5 con gà của T để bù 06 triệu, còn 10 triệu thì lấy tiền mặt, C kêu N bắt 05 con gà để vào giỏ gà. Đợi được một lúc thì không thấy ai đến trả tiền thì C yêu cầu T lên xe vơi C đến quán Tây N, phường 7, thành phố C để đợi người đem tiền vào. T sợ nên lên xe cho C chở. Lúc này có Phạm Xuân T, Nguyễn Thị B, Nguyễn Thị U, Cao Minh K nhà đối diện với chổ ở của T nhìn thấy. Khoảng hơn 11 giờ thì Từ Trường G, Nguyễn Thị X, Trần Văn N, Nguyễn Toàn V, Trần Duy P (chưa rõ họ tên) đến Tây Nam gặp T. Tại đây nhóm của G thỏa thuận với C là trả trước 10.000.000 đồng, còn lại 6.000.000 đồng sẽ trả sau, C đồng ý. P đi mượn tiền về giao lại cho G, G đưa cho C. Sau khi trả xong tiền thì T cùng với nhóm của G ra về. Ngày 10/9/2018, T đi khám thương tích tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Cà Mau.

Qua quá trình điều tra Nguyễn Hữu T thành khẩn khai báo thừa nhận: vào ngày 07/9/2018 có đá gà ăn tiền với C 02 lần, ăn thua trên tổng số tiền 16.000.000 đồng đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị can. Tuy nhiên, bị can phạm tội đánh bạc 02 lần (nhiều lần) là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Ngày 26/11/2019, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau đã truy tố Trịnh Bảo C về tội “Cướp A sản” và “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 168 Bộ luật Hình sự và khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự; Võ Hạ Q Đ, Hứa Văn N về tội “Cướp A sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 168 Bộ luật Hình sự; Trần Bá A về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự

Cáo trạng số 25/CT-VKS ngày 14/01/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau truy tố bị cáo Nguyễn Hữu T về tội “Đánh bạc" theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa: Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với Nguyễn Hữu T theo cáo trạng số: 25/CT-VKS ngày 14 tháng 01 năm 2020 và đề nghị:

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu T phạm tội “Đánh bạc”.

Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu T 06 đến 09 tháng tù.

Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các A liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Trong quá trình điều tra, truy tố, bị cáo không khiếu nại gì về các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên. Hội đồng xét xử xét thấy các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố là hợp pháp, được thực hiện đúng theo trình tự, thủ tục của Bộ luật tố tụng hình sự quy định.

Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Hữu T hoàn toàn thừa nhận đã thực hiện hành vi đánh bạc, cụ thể là đá gà ăn tiền đúng như cáo trạng nêu không oan, sai. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo, lời khai của các bị can khác tại cơ quan điều tra cùng các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, cụ thể: Ngày 07/9/2018, Nguyễn Hữu T cùng Trần Bá A, Nguyễn Văn Ú (B Nhớt), Trịnh Bảo C hẹn nhau đá gà ăn tiền tại khu đất thuộc ấp Tân Phong B, xã Hòa Thành, thành phố Cà Mau, bị cáo T cùng các bị can khác đá gà hai hiệp với số tiền là 16.000.000 đồng.

Xét khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo là người đã trưởng thành, bị cáo nhận thức rất rõ mọi hành vi đánh bạc trái phép dưới bất cứ hình thức nào nhằm mục đích ăn thua bằng tiền hoặc hiện vật là một hành vi trái pháp luật nhưng chỉ vì mục đích vụ lợi cá nhân mà bị cáo bất chấp pháp luật để thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo đã thực hiện việc đá gà ăn tiền với các bị can khác, cụ thể đá lần thứ nhất cá cược là 6000.000 đồng, cá cược lần thứ hai là 10.000.000 đồng, cả hai lần bị cáo thua là 16.000.000 đồng.

Do đó, Cáo trạng số 25/CT-VKS ngày 14/01/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau truy tố bị cáo Nguyễn Hữu T về tội “Đánh bạc" theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét hành vi của bị cáo Hội đồng xét xử xét thấy: Hành vi đánh bạc của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự công cộng, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh, chính trị tại địa phương, gây dư luận xấu trong nhân dân là nguyên nhân dẫn đến các tệ nạn khác của xã hội. Bị cáo thực hành vi phạm tội hai lần, mỗi lần đều trên 5.000.000 đồng nên bị cáo phạt chịu thêm tình tiết tăng nặng là phạm tội nhiều lần. Vì vậy, phải áp dụng pháp luật hình sự để xử lý bị cáo với hành vi mà bị cáo đã thực hiện nhằm giáo dục và răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.

Tuy nhiên, Hội đồng xét xử có xem xét nhân thân bị cáo chưa tiền án, quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng do đó Hội đồng xét xử có xem xét khi áp dụng hình phạt đối với bị cáo theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.

Đối với hành vi của những đối tượng cùng đá gà chung với T, ngày 26/11/2019, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau đã truy tố Trịnh Bảo C về tội “Cướp tài sản” và “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 168 Bộ luật Hình sự và khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự; Võ Hạ Q Đ, Hứa Văn N A về tội “Cướp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 168 Bộ luật Hình sự; Trần Bá A về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ C hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu T phạm tội “Đánh bạc”

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu T 07 (bảy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 12/11/2019.

Buộc bị cáo T phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (chưa nộp).

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ