- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hầu A P phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hầu A P phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TAND HUYỆN VĂN BÀN TỈNH LÀO CAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 39/2020/HS-ST Ngày 10/9/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN BÀN, TỈNH LÀO CAI.
Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Triệu Vĩnh Thái.
Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Vũ Thanh Nguyên.
2. Ông Đàm Sông Hương.
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Dung - Thư ký toà án nhân dân huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Bàn tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Tiến - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai. Mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 39/2020/ TLST-HS ngày 11 tháng 8 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2020/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 8 năm 2020 đối với bị cáo:
Hầu A P - Sinh ngày 01/10/1965, tại huyện S, tỉnh L.
Nơi cư trú: Thôn H, xã N, huyện V, tỉnh L.
Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ văn hóa: Không.
Dân tộc: Mông; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam.
Con ông: Hầu A P1; con bà: Giàng Thị M (đã chết).
Vợ: Sùng Thị S, sinh năm 1957; bị cáo có 03 con, lớn nhất sinh năm 1989, nhỏ nhất sinh năm 1998. Hiện đều trú tại xã N, huyện V, tỉnh L.
Tiền án: Không; Tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/6/2020 cho đến nay tại nhà tạm giữ Công an huyện Văn Bàn - Có mặt tại phiên tòa.
* Người bào chữa cho bị cáo: Bà Lương Thị Chuyến, sinh năm 1991 - Trợ giúp viên, trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Lào Cai - Có mặt.
Những người làm chứng:
1 - Ông Bùi Văn T - sinh năm 1985. Nơi cư trú: Thôn T, xã N, huyện V, tỉnh L - Vắng mặt.
2 - Ông Hầu A S - sinh năm 1989 Nơi cư trú: Thôn H, xã N, huyện V, tỉnh L - Vắng mặt.
3 - Bà Sùng Thị S1, sinh năm 1957. Nơi cư trú: Thôn H, xã N, huyện V, tỉnh L - Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên Tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 08 giờ ngày 04/6/2020 tại thôn H, xã N, huyện V, tổ công tác Công an huyện V phát hiện và bắt quả Hầu A P đang bán trái phép chất ma túy cho Bùi Văn T - sinh năm 1985, trú tại thôn T, xã N, huyện V, thu giữ trên tay phải của T 02 gói nilon màu trắng, bên trong đều chứa chất nhựa dẻo màu nâu đen T khai là thuốc phiện vừa mua của P với giá 80.000đ. Hầu A P cũng tự giác giao nộp 100.000đ và lấy từ trong lọ nhựa màu vàng ra 04 gói nilon màu trắng, bên trong đều chứa chất nhựa dẻo màu nâu đen giao nộp khai nhận là thuốc phiện và tiền bán thuốc phiện cho T mà có. Ngoài ra T còn giao nộp 20.000đ khai là tiền do Phử trả lại sau khi trả tiền mua thuốc phiện còn thừa. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ và niêm phong vật chứng.
Tiến hành khám xét chỗ ở của Hầu A P, P đã tự giác lấy từ trong túi vải treo phía trên giường ngủ ra 01 túi nilon màu hồng, trong là lớp nilon màu trắng bọc chất nhựa dẻo màu nâu đen và 01 gói nilon màu trắng, bên trong là chất nhựa dẻo màu nâu đen giao nộp và khai là thuốc phiện của P; lấy từ phía cuối giường ngủ ra 01 bộ bàn đèn, gồm: 01 ống vầu đường kính 4cm, dài 31cm, trên ống có một lỗ tròn đường kính 0,2cm; 01 kim bằng kim loại đường kính 0,1cm, dài 20cm; 01 chén sứ màu trắng; 01 đèn làm bằng ống kim loại trong có bấc, phía trên có phễu chụp bằng thủy tinh giao nộp khai là bàn đèn để sử dụng thuốc phiện; thu giữ trong tủ nhà P số tiền 30.000.000đ.
Về nguồn gốc số thuốc phiện, Hầu A P khai: Khoảng 15 giờ ngày 31/5/2020, P đang ở nhà thì có hai người phụ nữ không quen biết đến hỏi P có mua thuốc phiện không? P đồng ý và mua được của hai người này 01 gói thuốc phiện với giá 3.000.000đ. Sau khi mua được thuốc phiện P đã chia tách thành nhiều gói nhỏ để sử dụng và bán kiếm lời. Đến khoảng 08 giờ ngày 04/6/2020, P bán cho T 02 gói giá 80.000đ thì bị công an vào bắt quả tang.
Tại bản kết luận giám định số 114/GĐMT ngày 09/6/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh L, kết luận: 0,57 gam chất nhựa dẻo, màu nâu đen thu giữ của Bùi Văn T; 51,43 gam chất nhựa dẻo, màu nâu đen thu giữ của Hầu A P khi bắt quả tang và khám xét gửi giám định là nhựa thuốc phiện.
* Tại bản Cáo trạng số 38/CT-VKS ngày 10/8/2020 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai, quyết định truy tố bị can Hầu A P ra trước Tòa án nhân dân huyện Văn Bàn để xét xử về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 điều 251 Bộ luật hình sự. Tại phiên Tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Bàn đề nghị Hội đồng xét xử: - Tuyên bố bị cáo Hầu A P phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Về hình phạt: + Hình phạt chính: Đề nghị áp dụng khoản 1 điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự tuyên phạt bị cáo Hầu A P từ 02 năm tù đến 02 năm 06 tháng tù.
+ Về hình phạt bổ sung: Không.
- Về vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự. Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy 20,78g thuốc phiện còn lại sau giám định và 01 bộ bàn đèn để sử dụng thuốc phiện do không còn giá trị sử dụng. Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 80.000đ tiền do phạm tội mà có, tạm giữ 20.000đ đã thu giữ của bị cáo P để đảm bảo thi hành án.
* Tại phiên Tòa người bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Hầu A P mức án thấp nhất của khung hình phạt là 02 năm tù và không áp dụng hình phạt bổ sung vì trước khi có hành vi vi phạm pháp luật bị cáo luôn chấp hành tốt chính sách pháp luật của Nhà nước, chưa có tiền án, tiền sự, là người dân tộc thiểu số nhận thức pháp luật có phần hạn chế, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; điều kiện kinh tế gia đình khó khăn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Khoảng 15 giờ ngày 31/5/2020, Hầu A P mua của 02 người phụ nữ 01 gói nhựa thuốc phiện với giá 3.000.000đ. Sau khi mua được thuốc phiện P đã chia tách thành nhiều gói nhỏ để sử dụng và bán kiếm lời. Đến khoảng 08 giờ ngày 04/6/2020, Hầu A P bán cho Bùi Văn T 02 gói thuốc phiện giá 80.000đ thì bị Công an bắt quả tang, thu giữ trên tay phải của T 02 gói thuốc phiện gói ngoài bằng nilon mầu trắng; Hầu A P tự giác giao nộp 100.000đ và 04 gói thuốc phiện gói ngoài bằng nilon màu trắng. Tiến hành khám xét chỗ ở, Hầu A P đã tự giác giao nộp 02 túi nhựa thuốc phiện được gói ngoài bằng nilon; 01 bộ bàn đèn dùng để sử dụng thuốc phiện. Ngoài ra thu giữ trong tủ nhà Hầu A P số tiền 30.000.000đ.
Như vậy lời nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai người làm chứng và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ cơ sở xác định: Hầu A P phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, theo quy định tại khoản 1 điều 251 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội.
Hội đồng đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân bị cáo như sau: Hành vi của bị cáo đã gây mất trật tự trị an tại địa phương, xâm phạm trực tiếp đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước. Bị cáo hiểu rõ ma túy là độc dược nguy hiểm, ảnh hưởng đến sức khỏe, tính mạng con người. Là người chồng, người cha trong gia đình nhưng bị cáo không tu dưỡng, rèn luyện bản thân, không làm gương cho con cái noi theo mà sử dụng ma túy và bán ma túy kiếm lời bất chính. Vì vậy cần phải áp dụng một hình phạt thật nghiêm khắc và phạt bổ sung một khoản tiền tương xứng với hành vi phạm tội để cải tạo giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội và phòng ngừa chung.
Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra truy tố và xét xử, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng khó khăn của huyện. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự nên xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt tù và hình phạt bổ sung đối với bị cáo để thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.
Tại phiên Tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Bàn và người bào chữa cho bị cáo không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo nhưng xét thấy gia đình bị cáo không thuộc diện hộ nghèo hay cận nghèo của xã và dùng 3.000.000đ là số tiền lớn mua ma túy để sử dụng và bán kiếm lời nên cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo để răn đe và phòng ngừa chung.
Về vật chứng: 52,0g thuốc phiện thu giữ của Hầu A P và Bùi Văn T, cơ quan điều tra gửi giám định, cơ quan giám định lưu mẫu 31,22g, còn lại 20,78g thuốc phiện cần tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 bộ bàn đèn Hầu A P sử dụng để hút thuốc phiện không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy. Đối với số tiền 100.000đ thu giữ của bị cáo trong đó có 80.000đ là tiền do phạm tội mà có cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước, còn lại 20.000đ cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Đối với 20.000đ là tiền mua thuốc phiện thừa, Bùi Văn T được bị cáo P trả lại, cơ quan điều tra đã trả lại cho anh T nên không đề cập giải quyết.
Đối với 30.000.000đ tiền thu giữ khi khám xét chỗ ở của bị cáo P. Quá trình điều tra xác định số tiền trên là của anh Hầu A S gửi, không liên quan đến hành vi phạm tội, cơ quan điều tra đã trả lại cho anh S nên không đề cập giải quyết.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của bộ luật tố tụng hình sự.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Đối với Bùi Văn T là người nghiện chất ma túy ngày 04/6/2020 đã mua 0,57 gam nhựa thuốc phiện để sử dụng khối lượng ma túy chưa đến mức truy cứu trách hiệm Hình sự, Công an huyện Văn Bàn đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính nên không đề cập giải quyết.
Đối với hai người phụ nữ đã bán thuốc phiện cho P ngày 31/5/2020. Quá trình điều tra không xác định được tên, tuổi, địa chỉ nên không có căn cứ để xử lý.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự:
Tuyên bố bị cáo Hầu A P phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Hầu A P 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù và phạt 5.000.000đ (năm triệu đồng) sung ngân sách Nhà nước, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04/6/2020 ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo.
* Về vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy 20,78 gam nhựa thuốc phiện đựng trong 01 (một) bì niêm phong còn nguyên vẹn, trên một mặt của bì có ghi: “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu giữ khi khám xét chỗ ở của Hầu A P ngày 04/6/2020 tại xã N, huyện V, tỉnh L”. Mặt sau có 02 chữ ký của người tham gia niêm phong và 02 dấu tròn đỏ của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh L.
- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bộ bàn đèn gồm: 01 (một) ống vầu đường kính 4cm, dài 31cm, trên ống có một lỗ tròn đường kính 0,2cm; 01 (một) kim bằng kim loại đường kính 0,1cm dài 20cm; 01 (một) chén sứ mầu trắng; 01 (một) đèn làm bằng ống kim loại trong có bấc, phía trên có phễu chụp bằng thủy tinh thu giữ của bị cáo Hầu A P do không còn giá trị sử dụng.
- Tịch thu sung Ngân sách nhà nước 80.000đ (tám mươi nghìn đồng) tiền do phạm tội mà có đã thu giữ của bị cáo Hầu A P.
- Tạm giữ của bị cáo Hầu A P 20.000đ (hai mươi nghìn đồng) để đảm bảo thi hành án.
* Về án phí: Áp dụng khoản 2 điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Hầu A P phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các điều 6, điều 7, điều 7a, 7b, 7c và điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận - TAND Tỉnh(01); - VKSND tỉnh(01); - VKSND huyện(01) - Công an huyện(02); - Bị cáo(01); - THAHS, THADS; - Lưu HS, Văn phòng. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Triệu Vĩnh Thái |