vanban.org

Bản án 39/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên Tuyên án 18/08/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Kháng A C phạm tội "Mua bán trái phép chất ma tuý".

Xử phạt bị cáo Kháng A Cú 9 (Chín) năm 6 (Sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án và được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam là 65 ngày. Về vật chứng vụ án: Căn cứ khoản điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Kháng A C - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Kháng A C phạm tội "Mua bán trái phép chất ma tuý".
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MƢỜNG NHÉ
TỈNH ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 39/2020/HS-ST
Ngày 18-8-2020

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƢỜNG NHÉ, TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Dương Thị Nhung

Các hội thẩm nhân dân: Ông Giàng A Sinh

Bà Ly Thị Hoa

- Thư ký phiên tòa: Ông Quàng Văn Nam-Thư ký Toà án nhân dân huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Đỗ - Kiểm sát viên.

Ngày 18/8/2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên. Tòa án nhân dân huyện Mường Nhé tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 20/2020/TLST-HS ngày 28/7/2020 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2020/QĐXXST-HS ngày 06/8/2020 đối với bị cáo:

Họ và tên: Kháng A C (Tên gọi khác: không); Sinh năm 1988 tại huyện M, tỉnh Y; Nơi cư trú: Bản H, xã N, huyện N, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Làm nương; Trình độ văn hoá: Không; Dân tộc: Mông; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Kháng Bìa Ch (đã chết) và bà Cháng Thị D (sinh năm 1966); Có vợ là Sùng Thị Ch (sinh năm 1989) và có 05 con; Tiền sự: Không; Tiền án: không; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 17/3/2020 đến ngày 26/3/2020, tạm giam từ ngày 26/3/2020 đến ngày 21/5/2020, bảo lĩnh từ ngày 22/5/2020 đến nay, có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Pờ Go L- Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý của trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nhà nước tỉnh Điện Biên, có mặt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Sùng Thị Ch, sinh năm 1989, nơi cư trú: Bản H, xã N, huyện N, tỉnh Điện Biên. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 15 giờ ngày 15/3/2020 Kháng A C đang ở nhà thì có một người đàn ông dân tộc Thái lạ mặt đến nhà C, qua hỏi han trao đổi thì C mua được của ông ta 04 cục nhỏ Heroine với giá 3.000.000 đồng, mua bán xong ông ta đi đâu C không rõ, còn C cất giấu Heroine trong nhà. Đến 9 giờ ngày 17/3/2020 C đi xe máy từ nhà lên nhà bố vợ ở xã Ch, huyện M để giúp bố vợ phát nương, trên đường đi đến xã N, C gặp một người đàn ông tự giới thiệu tên là V và V muốn mua Heroine của C, C hẹn ông ta đến khu vực bản N, xã M để trao đổi mua bán heroine. Đến khoảng 14 giờ 15 phút, C đến địa điểm hẹn nhau mua bán Heroine là bản N, xã M, nhưng chưa kịp giao dịch mua bán Heroine thì bị Tổ công tác công an huyện Mường Nhé phát hiện bắt quả tang, thu giữ toàn bộ số Heroine C mang theo, thu giữ 910.000 đồng của C và thu giữ chiếc xe máy HONDA Wave RSX màu đỏ đen, xe không có biển kiểm soát (kèm chìa khóa xe). C khai nhận mục đích mua Heroine để sử dụng và bán lẻ kiếm lời.

Kết luận giám định số 268/GĐ-PC09 ngày 24/3/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: 04 mẫu chất bột màu tắng đục gửi giám định trích ra từ vật chứng thu giữ của Kháng A C là Heroine; Khối lượng vật chứng thu giữ của Kháng A C là 14,07 gam.

Theo phiếu trả lời xác minh phương tiện giao thông đường bộ của công an huyện Mường Nhé thì chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA WAVE RSX màu đỏ đen, số máy JC43E6015463, số khung RLHJC4326BY101600 thu giữ của bị cáo có biển kiểm soát là 27S1-088.48, chủ sở hữu là Kháng A C.

Cáo trạng số 39/CT-VKS-MN ngày 27/7/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé đã truy tố Kháng A C để xét xử về tội: Mua bán trái phép chất ma túy theo điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố, phần luận tội đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự tuyên bố bị cáo phạm tội: Mua bán trái phép chất ma túy và đề nghị xử phạt bị cáo từ 9 đến 10 năm tù; không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự; Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị tịch thu tiêu hủy: 13,6 gam Heroine còn lại sau khi đã trích giám định; tịch thu nộp ngân sách Nhà nước ½ giá trị chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA WAVE RSX màu đen đỏ, xe không có biển kiểm soát, số máy JC43E6015463, số khung RLHJC4326BY101600; trả lại cho vợ bị cáo là chị Sùng Thị Ch ½ giá trị chiếc xe máy trên (kèm chìa khóa xe); trả lại cho bị cáo 910.000 đồng; Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Tại phiên tòa người bào chữa cho bị cáo nhất trí với Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát, nhất trí với luận tội về tội danh; điều khoản áp dụng; các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; hình phạt bổ sung; xử lý vật chứng vụ án và án phí; về phần hình phạt chính đề nghị xử phạt bị cáo từ 8 đến 9 năm tù.

Tại phiên tòa bị cáo Kháng A C khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã tóm tắt ở trên và đúng như cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố. Bị cáo nhất trí với nội dung bào chữa của Luật sư, không tranh luận gì với luận tội của Viện kiểm sát. Lời sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Sùng Thị Ch tại phiên tòa khai: Chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA WAVE RSX màu đen đỏ, xe không có biển kiểm soát, số máy JC43E6015463, số khung RLHJC4326BY101600 mà bị cáo dùng đi mua ma túy là mua năm 2020, mua bằng tiền bán 01 con trâu mà bố chị Ch cho chị Ch từ năm 2011 khi chị Ch kết hôn với bị cáo C, chị Ch khai không biết gì về việc bị cáo đã dùng chiếc xe này để đi mua ma túy, chị Ch đề nghị cơ quan có thẩm quyền trả lại cho chị chiếc xe máy trên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Xét hành vi và những căn cứ xác định tội danh của bị cáo:

Tại phiên tòa bị cáo khai ngày 15/3/2020 bị cáo mua được 14,07 gam Herine của một người đàn ông dân tộc Thái lạ mặt, mua với mục đích sử dụng bán lẻ kiếm lời, đến ngày 17/3/2020 bị cáo hẹn bán Heroine cho một người đàn ông tên V không quen biết. Khoảng 14 giờ 15 phút khi C đi xe máy đến địa điểm giao dịch bán Heroine cho người đàn ông tên là V tại bản N, xã M, huyện M, tỉnh Điện Biên, chưa bán được thì bị bắt quả tang và bị thu giữ toàn bộ số Heroine bị cáo cất giấu trong người. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai và các bản cung có trong hồ sơ vụ án về thời gian, địa điểm thực hiện hành vi phạm tội, phù hợp với kết luận giám định, kết luận điều tra, cáo trạng truy tố và các chứng cứ, tài liệu khác đã thu thập có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, hành vi tàng trữ trái phép 14,07 gam Heroine với mục đích để sử dụng và bán lẻ kiếm lời của bị cáo Kháng A C đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự. Cáo trạng số 39/CT-VKS-MN ngày 27/7/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé truy tố bị cáo để xét xử về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Xét tính chất vụ án: Đây là vụ án nghiêm trọng về ma túy, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách thống nhất quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, đi ngược lại đường lối chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước trong việc đấu tranh phòng ngừa các tội phạm về ma túy, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự địa phương. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.

Xét nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo thành khẩn khai báo nên chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và người bào chữa áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về áp dụng hình phạt đối với bị cáo: Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy cần xử phạt bị cáo nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo từ 9 đến 10 năm tù. Người bào chữa đề nghị xử phạt bị cáo từ 8 đến 9 năm tù. Xét đề nghị của người bào chữa là thấp chưa tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo vì bị cáo mua bán Heroine với khối lượng lớn, do vậy cần xử phạt bị cáo như đề nghị của Viện Kiểm sát.

Xét hoàn cảnh kinh tế gia đình của bị cáo khó khăn, không có tài sản gì giá trị, hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát và người bào chữa không áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 5 điều 251 BLHS đối với bị cáo.

Đối với đối tượng người đàn ông dân tộc Thái là người đã bán Heroine cho bị cáo và đối tượng tên là V là người bị cáo hẹn mua bán Heroine, do bị cáo không biết cụ thể địa chỉ cư trú ở đâu, cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh nên không có cơ sở để xử lý.

Về xử lý vật chứng:

Đối với 13,6 gam Heroine còn lại sau khi đã trích giám định cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA WAVE RSX màu đỏ đen, không có biển kiểm soát, số máy JC43E6015463, số khung RLHJC4326BY101600: Tại phiên tòa chị Ch khai đây là chiếc xe máy mua bằng tiền bán một con trâu mà bố chị Ch cho chị Ch khi chị lấy bị cáo C từ năm 2011, chị Ch đề nghị trả lại cho chị chiếc xe máy này. Hội đồng xét xử xét thấy chiếc xe máy này mặc dù mua bằng tiền bán trâu như chị Ch khai nhưng hai vợ chồng bị cáo đã chăn dắt từ năm 2011 đến năm 2020 mới bán để mua xe máy nên đây là tài sản chung của hai vợ chồng bị cáo, bị cáo Kháng A C đã sử dụng chiếc xe máy này làm phương tiện để đi bán Heroine nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước. Tuy nhiên, chị Ch không biết gì về việc bị cáo dùng chiếc xe máy này để đi bán heroine, do vậy cần tịch thu ½ giá trị chiếc xe máy để nộp vào ngân sách Nhà nước và trả lại cho chị Sùng Thị Ch ½ giá trị chiếc xe máy trên (kèm chìa khóa).

Đối với số tiền 910.000 đồng (Chín trăm mười nghìn đồng), quá trình điều tra đã làm rõ số tiền này không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên cần trả lại cho bị cáo.

Về án phí: Xét thấy bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số, thường trú ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và đã có đơn đề nghị miễn án phí nên chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát và người bào chữa miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Mường Nhé, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé, Kiểm sát viên, người bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người bào chữa. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người bào chữa đã thực hiện đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Điểm i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

1. Tuyên bố bị cáo Kháng A C phạm tội "Mua bán trái phép chất ma tuý".

Xử phạt bị cáo Kháng A Cú 9 (Chín) năm 6 (Sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án và được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam là 65 ngày.

2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ khoản điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu, tiêu huỷ 13,6 gam heroine là vật chứng vụ án Kháng A C.

Tịch thu ½ giá trị chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA WAVE RSX màu đỏ đen, xe không có biển kiểm soát, số máy JC43E6015463, số khung RLHJC4326BY101600 để nộp ngân sách nhà nước;

Trả lại cho chị Sùng Thị Ch ½ giá trị chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA WAVE RSX màu đỏ đen, xe không có biển kiểm soát, số máy JC43E6015463, số khung RLHJC4326BY101600 (Kèm chìa khóa).

(Theo phiếu trả lời xác minh phương tiện giao thông đường bộ của công an huyện Mường Nhé thì chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA WAVE RSX màu đỏ đen, số máy JC43E6015463, số khung RLHJC4326BY101600 có biển kiểm soát là 27S1-088.48, chủ sở hữu là Kháng A Cú).

Trả lại cho bị cáo Kháng A C 910.000 đồng (Chín trăm mười nghìn đồng). Số tiền này hiện đang tạm gửi tại số tài khoản 3949.0.1072731.00000 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mường Nhé mở tại Kho bạc Nhà nước huyện Mường Nhé.

Chi tiết các vật chứng được mô tả theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 03/8/2020 giữa Công an huyện Mường Nhé và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mường Nhé.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ