- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma tuý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Cao Kim N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM TÂN TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 39/2020/HS-ST Ngày: 10/11/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM TÂN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Minh Chính;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Mạnh Quân và bà Trần Thị Ngọ;
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân
huyện Hàm Tân;
Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Thanh Tú - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 11 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân
xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 35/2020/TLST-HS
ngày 06/10/2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2020/QĐXXST-HS
ngày 26/10/2020, đối với bị cáo:
CAO KIM N, (Tên gọi khác: Không), sinh năm 1990 tại T G;
HKTT: Lầu, Lê Q, Phường X, Quận Y, Tp. T;
Nghề nghiệp: Nhân viên mát - xa; Trình độ học vấn: 04/12; Dân tộc:
Kinh;
Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam;
Con ông Cao Văn T và bà Ngô Thị K;
Gia đình có 05 chị em, bị cáo là con út;
Chồng: Phạm Nguyễn H; Có 02 con, con lớn sinh năm 2006, con nhỏ
sinh năm 2012;
Tiền án, Tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt ngày 30/6/2020, hiện đang bị tạm giam tại Nhà Tạm giữ
Công an huyện Hàm Tân. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội
dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào sáng ngày 27/6/2020 N đến phòng trọ của một người bạn tên L
(Không rõ nhân thân lai lịch) ở địa bàn Quận D, Tp. T chơi, khi ra về đến đầu
hẻm thì N gặp một người bán vé số (Không rõ nhân thân lai lịch), N nhờ người
này mua giùm 300.000 đồng ma túy đá để sử dụng và N cho người này 50.000
đồng. Mua được ma túy, N không sử dụng ngay mà cất giấu, đến ngày 30/6/2020, N giấu gói ma túy vào ngăn kéo ngoài cùng balo và đón xe đi ra địa bàn huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận chơi. Đến khoảng 23 giờ 00 phút cùng ngày N ra đến nơi và được anh Lê Đức Hoàng Nh chở đi. N không nói cho anh Nh biết về việc mình đang cất giấu ma túy đá. Khi anh Nh chở N đến khu vực ngã ba chợ Tân Minh để ăn uống thì bị lực lượng Công an huyện Hàm Tân cùng Công an thị trấn Tân Minh tuần tra nghi ngờ nên kiểm tra hành chính. Qua kiểm tra, thu giữ trong balo N đang mang theo có 01 gói nylon màu trắng có kích thước 2,3cm×3cm được hàn kín bên trong có chứa chất dạng tinh thể màu trắng; 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu đỏ; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm 01 bình thủy tinh có gắn ống thủy tinh có đầu hình cầu, ống hút nhựa.
Tại Kết luận giám định số 733/KLGĐ-PC09 ngày 08/7/2020 của Phòng
Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Bình Thuận xác định: Gói nylon màu trắng, được hàn kín, bên trong có chứa tinh thể màu trắng, được ký hiệu là M: Có khối lượng là 0,4836gam, là Methamphetamine.
Vật chứng vụ án thu giữ gồm có:
- 0,4836gam là Methamphetamine, hiện còn 0,3616gam (Do lấy mẫu
giám định) được niêm phong trong phong bì số 733 có chữ ký của Giám định viên Đoàn Thảo Nguyên và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật Hình sự - Công an tỉnh Bình Thuận;
- 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy bằng thủy tinh (Gồm 01 bình thủy tinh
có gắn ống thủy tinh có đầu hình cầu và một ống hút nhựa);
- 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu đỏ, Cơ quan điều tra đã trả lại
cho Cao Kim N.
Với nội dung như trên, Cáo trạng số 39/CT-VKS ngày 05/10/2020 của
Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân đã truy tố bị cáo Cao Kim N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như
cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân đã truy tố và thống nhất với các điều khoản mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân đã viện dẫn trong Cáo trạng.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân giữ quyền
công tố luận tội và tranh luận đã phân tích hành vi phạm tội của bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” như nội dung Cáo trạng, đồng thời xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ khi quyết định mức hình phạt đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Cao Kim N từ 12 đến 18 tháng tù.
Về biện pháp tư pháp: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy
0,3616gam Methamphetamine còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 733 có chữ ký của Giám định viên Đoàn Thảo Nguyên và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật Hình sự - Công an tỉnh Bình Thuận; 01 bộ
dụng cụ sử dụng ma túy bằng thủy tinh gồm 01 bình thủy tinh có gắn ống thủy
tinh có đầu hình cầu và một ống hút nhựa.
* Ý kiến của bị cáo: Bị cáo đồng ý với nội dung và tội danh mà Cáo trạng
của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân đã truy tố, đồng thời xin Hội đồng
xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy
tố, xét xử.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an
huyện Hàm Tân, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân, Kiểm
sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình
tự thủ tục, quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên
tòa, bị cáo không có ý kiến, hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan
tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng
của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp
pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của
mình, phù hợp với lời khai và các tài liệu chứng cứ thu thập được trong quá
trình điều tra vụ án, đã có đủ cơ sở xác định:
Ngày 27/6/2020, N đến chơi ở nhà một người bàn trên địa bàn Quận D,
Tp. Y. Khi về đến đầu hẻm thì N có nhờ một người bán vé số mua giùm 01 gói
ma túy đá với giá 300.000 đồng. Mua được ma túy, N không sử dụng mà cất
giấu. Đến ngày 30/6/2020, N cất giấu số ma túy này trong balo và mang đến
Hàm Tân chơi thì bị bắt quả tang. Tại các biên bản ghi lời khai của bị cáo; biên
bản hỏi cung; lời khai bị cáo tại phiên tòa đều thống nhất hành vi của bị cáo
đúng như Cáo trạng đã nêu.
Tại Kết luận giám định số 733/KLGĐ-PC09 ngày 08/7/2020 của Phòng
Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Bình Thuận xác định: Gói nylon màu trắng, được
hàn kín, bên trong có chứa tinh thể màu trắng, được ký hiệu là M: Có khối lượng
là 0,4836gam, là methamphetamine.
Bị cáo tàng trữ trái phép 0,4836gam methamphetamine để sử dụng,
không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy.
Hành vi của bị cáo xâm phạm khách thể được Luật Hình sự bảo vệ là chế độ
quản lý của Nhà nước về chất Ma túy. Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình
sự, nhận thức hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng là vi phạm pháp
luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Như vậy, hành vi của bị cáo đủ
yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất Ma túy” quy định tại điểm c khoản
1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Do vậy Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân truy tố bị
cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo biết rõ ma tuý là
hiểm họa của con người và xã hội, tệ nạn ma túy không những xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, mà còn là nguyên nhân sản sinh ra nhiều loại tội phạm khác. Mặc dù nhận thức rõ điều này, nhưng để thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân, bị cáo đã bất chấp hậu quả, bất chấp pháp luật, tàng trữ ma túy để sử dụng. Vì vậy, cần phải dành cho bị cáo mức án thật nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện để răn đe đối với bị cáo cũng như thông qua đó phòng ngừa tội phạm chung, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để bị cáo có thời gian cai nghiện ma túy, cũng như rèn luyện, tu dưỡng bản thân trở thành công dân có ích cho xã hội
Về tình tiết tăng nặng: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ: Sau khi thực hiện hành vi phạm tội cũng như
tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Đối với anh Lê Đức Hoàng Nh, quá trình điều tra xác định anh Nh
không giúp sức cũng như không biết việc N mua ma túy, cất giấu ma túy ở đâu, nên không xem xét xử lý trách nhiệm của anh Nh là phù hợp.
Về vật chứng vụ án:
- Đối với 0,3616gam methamphetamine là vật thuộc loại Nhà nước cấm
tàng trữ, cấm lưu hành nên cần tuyên tịch thu tiêu hủy;
- Đối với 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy bằng thủy tinh gồm 01 bình
thủy tinh có gắn ống thủy tinh có đầu hình cầu và một ống hút nhựa, đây là vật không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy;
- Đối với điện thoại Oppo thu giữ của bị cáo N, đây là vật không liên
quan đến hành vi phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho bị cáo N là phù hợp.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Cao Kim N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma
túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật
Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Cao Kim N 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn
tù được tính từ ngày 30/6/2020.
2. Xử lý vật chứng: Áp dụng: Khoản 1 Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình
sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tuyên tịch thu tiêu hủy 0,3616gam methamphetamine (Được niêm
phong trong phong bì số 733 có chữ ký của Giám định viên Đoàn Thảo Nguyên
và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật Hình sự - Công an tỉnh Bình
Thuận); 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy bằng thủy tinh gồm 01 bình thủy tinh có
gắn ống thủy tinh có đầu hình cầu và một ống hút nhựa.
Tất cả vật chứng hiện đang được Chi cục Thi hành án dân sự huyện
Hàm Tân quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/10/2020 giữa Cơ
quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hàm Tân với Chi cục Thi hành án dân sự
huyện Hàm Tân.
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị
quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc
hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ
phí Tòa án.
Bị cáo Cao Kim N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai, báo cho bị cáo biết quyền
kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
* Nơi nhận:
| - VKSND tỉnh Bình Thuận; - VKSND huyện Hàm Tân; - CA huyện Hàm Tân; - CQTHAHS Công an tỉnh Bình Thuận; - NTG CA huyện Hàm Tân; - Những người tham gia tố tụng; - Chi cục THADS Hàm Tân; - UBND địa phương bị cáo cư trú; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Lê Minh Chính |