- Tranh chấp gì? án hình sự — "Thao A Mành - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự, hình phạt:
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÁT XẤT TỈNH LÀO CAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 39/2020/HS-ST Ngày 24/9/2020 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÁT XÁT- TỈNH LÀO CAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Đức
- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Hoà; Ông Tẩn A Liều
- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên tòa: Bà Đặng Thu Hà - Thư ký Tòa án
nhân dân huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai.
- Đại diện VKSND huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai tham gia phiên tòa: Ông
Nguyễn Thế Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 9 năm 2020 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Bát Xát xét
xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 36/2020/HSST ngày 01 tháng 9 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2020/QĐXXST- HS ngày 11/9/2020 đối với bị cáo:
Họ và tên: Thào A M(tên gọi khác: Thào A Mềnh). Giới tính: Nam; Sinh
năm 1991 (không xác định được ngày, tháng sinh) tại huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn C , xã A, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: H’Mông; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông: Thào A Lòng (đã chết). Con bà: Sùng Thị Ké (đã chết). Gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; Vợ là Lý Thị Sinh, Sinh năm 1988. Trú tại Thôn C , xã A, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai; Bị cáo có 02 con, lớn sinh năm 2013, nhỏ sinh năm 2014. Hiện đang ở cùng mẹ.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại ngày 23/6/2020. Hiện đang tạm giam tại Trại
giam Công an tỉnh Lào Cai. Có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị Hương Thuỷ - Trợ giúp viên
pháp lý thuộc trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước, tỉnh Lào Cai. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Khoảng 05 giờ ngày 20/6/2020, Thào A Mđiều khiển xe mô tô Honda Wave RSX, biển kiểm soát 24B2 - 164.50 đi từ nơi ở tại Thôn C , xã A, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai, xuống xã Dền Sáng, huyện Bát Xát, mục đích để tìm mua ma túy về bán kiếm lời. Đến khoảng 06 giờ cùng ngày, khi đến thôn Ngải Trồ, xã Dền Sáng, huyện Bát Xát thì Thào A Mgặp một người đàn ông không quen biết đang đi bộ theo chiều ngược lại, Thào A Mdừng xe lại hỏi người đàn ông này “anh ơi, có ma túy bán không?” người đàn ông này nói “có”. Thào A Mliền lấy 750.000 (bảy trăm năm mươi nghìn) đồng từ trong túi quần sau bên phải đang mặc đưa cho người đàn ông này, người đàn ông này nhận tiền và đưa cho Thào A M01 gói ma túy được gói bằng nilon màu xanh. Thào A Mnhận gói ma túy cất vào trong túi quần trước bên trái đang mặc rồi đi về nhà. Đến khoảng 07 giờ 30 phút cùng ngày, khi về tới nhà thấy không có ai Thào A Mliền đi vào trong buồng ngủ dùng 01lưỡi dao lam chia nhỏ ma túy và mảnh nilon màu xanh vừa gói ma túy ra thành 22 phần rồi dùng bật lửa ga màu xanh hơ và dính 22 gói ma túy lại. Sau đó, Thào A Mcho 22 gói ma túy vào trong 01 túi nilon màu hồng giấu dưới gối trên đầu giường ngủ, lưỡi dao lam để ở mặt trên chiếc hòm tôn ở trong phòng ngủ còn chiếc bật lửa ga Thào A Mđã vứt vào trong bếp. Đến khoảng 11 giờ 30 phút ngày 23/6/2020, Thào A Mđang ở nhà một mình thì Tẩn Láo Lở, sinh năm 1984, trú tại thôn Ngải Trồ, xã A Lù, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai và Lò Láo Tả, sinh năm 1985, trú tại thôn Suối Thầu 1, xã Tả Giàng Phình, thị xã Sa Pa, tỉnh Lào Cai đến hỏi mua ma túy. Tẩn Lào Lở và Lò Láo Tả mỗi người đưa cho Thào A M50.000 (năm mươi nghìn) đồng, Thào A Mnhận và cất tiền vào trong túi quần phía sau bên phải đang mặc rồi đi vào trong phòng ngủ lấy 02 (hai) gói ma túy đưa cho Tẩn Láo Lở và Lò Láo Tả. Khi Tẩn Láo Lở nhận gói ma túy cất vào túi quần bên phải đang mặc và Lò Láo Tả đang cầm gói ma túy ở trong lòng bàn tay trái thì bị tổ công tác Công an huyện Bát Xát phát hiện bắt quả tang. Quá trình bắt quả tang Thào A Mđã tự giác giao nộp cho tổ công tác Công an huyện Bát Xát 20 (hai mươi) gói ma túy cất giấu dưới gối trong buồng ngủ và 100.000 (một trăm nghìn) đồng là số tiền Thào A Mvừa bán 02 (hai) gói ma túy cho Tẩn Láo Lở và Lò Láo Tả. Cùng ngày, Cơ quan điều tra Công an huyện Bát Xát đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Thào A Mành, thu giữ tại mặt trên hòm tôn đặt trong buồng ngủ 01 (một) lưỡi dao lam, trên thân có dòng chữ Croma.
Ngày 23/6/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bát Xát đã ra quyết
định trưng cầu giám định về ma túy đối với vật chứng thu giữ của Thào A Mành, Tẩn Láo Lở và Lò Láo Tả ngày 23/6/2020.
Biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng, trích mẫu, tái niêm phong và
giao nhận đối tượng giám định ngày 23/6/2020 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bát Xát và Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai đã xác định:
+ Bì 1: 01 (một) gói nilon màu hồng, bên trong là 20 (hai mươi) gói nilon màu
xanh thu giữ của Thào A Mành, trong cả 20 (hai mươi) gói đều chứa chất bột khô, màu trắng, vón cục có tổng khối lượng là 0,86 (không phẩy tám mươi sáu) gam. Trích mẫu 0,09 (không phẩy không chín) gam để tiến hành giám định, còn lại 0,77 (không phẩy bảy mươi bảy) gam hoàn trả cơ quan trưng cầu.
+ Bì 2: 01 (một) gói nilon màu xanh, bên trong chứa chất bột khô, màu trắng,
vón cục thu giữ của Lò Láo Tả, có khối lượng là 0,02 (không phẩy không hai) gam. Trích mẫu toàn bộ 0,02 (không phẩy không hai) gam để tiến hành giám định.
+ Bì 3: 01 (một) gói nilon màu xanh, bên trong chứa chất bột khô, màu trắng,
vón cục thu giữ của Tẩn Láo Lở, có khối lượng là 0,01 (không phẩy không một) gam. Trích mẫu toàn bộ 0,01 (không phẩy không một) gam để tiến hành giám định.
Kết luận giám định về ma túy số 138/GĐMT ngày 26/6/2020 của Phòng kỹ
thuật hình sự công an tỉnh Lào Cai đã kết luận: Bì 1: 0,86 (không phẩy tám mươi sáu) gam chất bột khô, màu trắng, vón cục gửi đến giám định là loại chất ma túy Heroine (hêrôin).
+ Bì 2: 0,02 (không phẩy không hai) gam chất bột khô, màu trắng, vón cục
gửi đến giám định là loại chất ma túy Heroine (hêrôin).
+ Bì 3: 0,01 (không phẩy không một) gam chất bột khô, màu trắng, vón cục
gửi đến giám định là loại chất ma túy Heroine (hêrôin)
Tại bản cáo trạng số 34/CT-VKS ngày 30/8/2020 của Viện kiểm sát nhân dân
huyện Bát Xát truy tố bị cáo Thào A M về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và
đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Thào A M về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Về hình phạt chính: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Thào A M từ 7 năm đến 7 năm 6 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23/6/2020.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng của vụ án: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 0,77 (không phẩy bảy mươi bảy) gam hêrôin còn lại sau giám định và 01 (một) lưỡi dao lam có in dòng chữ CROMA, đã qua sử dụng thu giữ của Thào A Mành; Tịch thu nộp vào Ngân sách Nhà nước số tiền 100.000 đồng (Một trăm nghìn) đồng là tiền bị cáo bán ma tuý mà có. Tuyên án phí và quyền kháng cáo cho bị cáo theo quy định của pháp luật.
Tại phiên toà người bào chữa cho bị cáo Thào A Mtrình bày: Viện kiểm sát
nhân dân huyện Bát Xát truy tố bị cáo Thào A Mvề tội “ Mua bán trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Bị cáo Thào A Mlà người dân tộc thiểu số, trình độ nhận thức và hiểu biết pháp luật hạn chế, trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình, ăn năn hối cải. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo mức án 7 năm tù. Do bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, bị cáo không có tài sản riêng, vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan
điều tra Công an huyện Bát Xát, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bát Xát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội với bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo đã thừa nhận toàn
bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung vụ án đã được tóm tắt ở phần trên. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi phạm tội của mình là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố ý thực hiện, do lười lao động nên đã đi mua ma túy về để bán kiếm lời.
Vào ngày 20/6/2020, Thào A Mđã đi mua 0,89 gam hêrôin đem về chia nhỏ
thành 22 goi để bán kiếm lời, đến 11 giờ 30 phút ngày 23/6/2020, khi bị cáo đang bán ma túy cho Tẩn Láo Lở và Lò Láo Tả thì bị phát hiện bắt quả tang cùng toàn bộ tang vật. Quá trình bắt quả tang bị cáo đã tự giác giao nộp cho tổ công tác Công an huyện Bát Xát 20 (hai mươi) gói ma túy cất giấu dưới gối trong buồng ngủ và 100.000 (một trăm nghìn) đồng là số tiền bị cáo vừa bán 02 (hai) gói ma túy cho Tẩn Láo Lở và Lò Láo Tả. Cùng ngày, cơ quan điều tra Công an huyện Bát Xát đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của bị cáo, thu giữ tại mặt trên hòm tôn đặt trong buồng ngủ 01 (một) lưỡi dao lam, trên thân có dòng chữ Croma.
Hành vi của bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma
túy”. Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai đã truy tố bị cáo Thào A Mra trước tòa về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội, trong quá trình
điều tra và tại phiên toà bị cáo Thào A M đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình, vì vậy cần xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và
lời khai của bị cáo tại phiên toà, bị cáo là người lao động tự do, không có việc làm ổn định, không có tài sản và thu nhập gì. Vì vậy không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.
Đối với người liên quan trong vụ án: Quá trình điều tra bị cáo khai: Đối
với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo ngày 20/6/2020 tại thôn Ngải Trồ, xã Dền Sáng, huyện Bát Xát, do bị cáo không biết tên, tuổi, địa chỉ của người đàn ông này nên Cơ quan điều tra không đủ căn cứ để xử lý là đúng quy định của pháp luật.
Đối với Lò Láo Tả và Tẩn Láo Lở đã mua ma túy hêrôin của bị cáo vào ngày
23/6/2020 mục đích để sử dụng. Do khối lượng hêrôin thu giữ của Lò Láo Tả và Tẩn Láo Lở không đủ khối lượng để xử lý về hình sự. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã xác minh địa chỉ theo lời khai của Lò Láo Tả khi bị bắt giữ nhưng kết quả xác minh không có người nào là Lò Láo Tả và qua xác minh địa chỉ theo lời khai của Tẩn Láo Lở khi bị bắt giữ, hiện tại Tẩn Láo Lở không có mặt tại địa phương. Vì vậy Cơ quan cảnh sát điều tra chưa xử lý được, khi nào xác minh được Lò Láo Tả và Tẩn Láo Lở sẽ xử lý sau.
Về vật chứng của vụ án: Cơ quan điều tra đã thu giữ của bị cáo 0,89 gam
hêrôin sau khi trích mẫu giám định số ma túy còn lại là 0,77 (không phẩy bảy mươi bảy) gam Hêrôin đã được tái niêm phong, đây là vật chứng của vụ án cần tuyên tịch thu để tiêu hủy; Đối với 01 lưỡi dao lam in dòng chữ CROMA bị cáo đã sử dụng con dao này để chia nhỏ số Hêrôin thành nhiều phần để bán kiếm lời, do vậy cần tịch thu tiêu huỷ theo quy định; Đối với số tiền 100.000 (Một trăm nghìn) đồng là tiền bị cáo bán ma tuý mà có nên cần tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước.
Về án phí: Buộc bị cáo Thào A Mphải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo
quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về trách nhiệm hình sự, hình phạt:
Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự :
Tuyên bố bị cáo Thào A Mphạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Thào A M 07 năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23/6/2020.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình
sự; Điểm a,b,c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy 0,77 gam Hêrôin còn lại sau trích mẫu giám định được tái
niêm phong theo quy định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai, trên một mặt bì niêm phong có ghi “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu giữ khi bắt quả tang Thào A M ngày 23/6/2020 tại Thôn C , xã A, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai; 01(một) lưỡi dao lam nhãn hiệu CROMA;
(Vật chứng được thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 31/8/2020
giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bát Xát bàn giao cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bát Xát)
Tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền 100.000 đồng (Một trăm
nghìn) đồng được niêm phong trong một bì thư do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bát Xát gửi vào Kho bạc huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai, trên mặt trước của bì có ghi “Vật chứng (tiền) thu giữ của Thào A Mtrong vụ án Mua bán trái phép chất ma tuý, xảy ra ngày 23/6/2020 tại Thôn C , xã A, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai.
3. VÒ ¸n phÝ: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và điểm a
khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội buộc bị cáo Thào A Mphải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo bản án: Án xử sơ thẩm công khai có mặt bị cáo. Bị
cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án;
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án
dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6,7,7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Hoà
Tẩn A Liều
Nguyễn Thị Minh Đức
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lào Cai; - VKSND tỉnh Lào Cai; - VKSND huyện.; - CA huyện 02; - Cơ quan thi hành án hình sự Công an tỉnh Lào Cai; - Sở tư pháp tỉnh Lào Cai; - Bị cáo; Người bào chữa, - Thi hành án 02; - Lưu HS; VP. CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do –Hạnh phúc ĐƠN KHỞI KIỆN Kính gửi:Toà án nhân dân huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai. Người khởi kiện: Nguyễn Thị Phương - Sinh năm 1959 Địa chỉ: Đội 7, thôn Đồng Quang, xã Quang Kim, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai. Số diện thoại: 0339.772.629 Người bị kiện: Ông Trần Văn Mới Địa chỉ: Đội 7, thôn Đồng Quang, xã Quang Kim, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai. Yêu cầu Toà án giải quyết những vẫn đề sau: Quang, xã Quang Kim, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai của ông Nguyễn Văn Quân (đã chết) bằng 08 con gà. Lúc mua bán tôi có nhờ ông Trần Quang Vinh sang chứng kiến vì ông Vinh là hàng xóm và thời điểm đó làm công an ở xã. Đến năm 1984 thì gia đình ông Trần Quang Vinh có mượn diện tích đất trên của gia đình tôi để canh tác, cho đến năm 1988 ông Vinh trả lại cho gia đình tôi diện tích đất trên. năm 1994 ông Trần Văn Mới (là em trai chồng tôi) hỏi mượn để canh tác, tôi đã đồng ý. Khi mượn chỉ hỏi nhau bằng miệng mà khống có giấy tờ gì mà tôi chỉ nói “Giờ con tôi còn nhỏ, tôi cho chú nhất trí với tôi. GCNQSDĐ, tôi yêu cầu ông Trần Văn Mới trả lại cho tôi diện tích đất trên thì ông Mới nói diện tích đất trên là của ông Mới, ông không trả cho tôi. nhưng không thành. buộc ông Trần Văn Mới trả lại diện tích đất trên cho tôi. *Những tài liệu chứng cứ kèo theo đơn khởi kiện gồm: 1. CMTND mang tên Nguyễn Thị Phương (bản sao) 2. Sổ hộ khẩu gia đình mang tên Nguyễn Thị Phương (Bảo sao) 3. Đơn xác nhân của người làm chứng (bản phô tô) 4. Biên bản làm việc ngày 11/12/2018 tại thôn Đồng Quang, xã Quang Kim, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai. 5. Biên bản làm việc ngày 29/3 /2019 tại Trụ sở UBND xã Quang Kim, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai. 6. Biên bản làm việc ngày 31/5/2019 tại UND, xã Quang Kim, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai. 7. Biên bản làm việc ngày 10/6/2019 tại UBND, xã Quang Kim, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai. 8. Công văn số 71/UBND –ĐC ngày 29/5/2019 của UBND xã Quang Kim. 9. Công văn số 98/UBND-ĐC ngày 26/6/2019 của UBND xã Quang Kim. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Minh Đức Bát Xát, ngày 30/06/2020 Vào năm 1981 gia đình tôi có mua diện tích đất 500 m2 đất tại địa chỉ Đội 7, thôn Đồng Năm 1990 chồng tôi mất, do hoàn cảnh khó khăn con còn nhỏ không có người lao động nên mượn, khi nào các cháu lớn thì chú trả lại diện tích đất trên cho tôi và các con tôi để làm”.Ông Mới Nay gia đình tôi con đã lớn và có nhu cầu sử dụng đất, UBND xã về thống kê đất để cấp Sự việc tranh chấp giữa tôi và ông Mới đã được UBND xã Quang Kim hoà giải đến lần thứ 4 Vậy tôi làm đơn này khởi kiện này, đề nghị Toà án nhân dân huyện Bát Xát xem xét giải quyết, NGƢỜI KHỞI KIỆN |