- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Minh P 249 - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? 1/ Chấp nhận kháng cáo của người có quyền lợi nghĩa v liên quan ông Trần Ngọc T và bà Lý Thị L; sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 46/2019/HS-ST ngày 09/10/2019 của Tòa án nhân dân huyện B tỉnh Bình Dương về xử lý vật chứng như sau:
- Căn cứ chính? Điều 355 Bộ luật Tố t ng hình sự; Điều 357 Bộ luật Tố t ng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 39/2020/HS-PT Ngày: 24-3-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Huỳnh Đức;
- Các Thẩm phán:
Ông Trương Văn Lộc;
Ông Trần Văn Luông.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thùy - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Bà Lữ Thị Lệ Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 3 năm 2020 t i tr s Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương m phiên toà xét xử phúc thẩm công khai v án hình sự phúc thẩm th lý số 226/2019/TLPT-HS ngày 10 tháng 12 năm 2019 đối với bị cáo Trần Minh P, do có kháng cáo của người có quyền lợi nghĩa v liên quan là ông Trần Ngọc T và bà Lý Thị L đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 46/2019/HS-ST ngày 09 tháng 10 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện B tỉnh Bình Dương.
- Bị cáo:
Trần Minh P, sinh năm 1999 t i thành phố Cần Thơ; hộ khẩu thường trú: Khu vực 7 phường H quận C thành phố Cần Thơ; t m trú: Ấp 1 xã M, huyện B tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Ngọc T sinh năm 1969 và bà Lý Thị L sinh năm 1969; bị cáo chưa có vợ con; tiền án: Không tiền sự: Ngày 17/10/2018, bị Ủy ban nhân dân phường P thị xã U tỉnh Bình Dương xử ph t 2.500.000 đồng về hành vi xâm ph m đến sức khỏe của người khác (đã chấp hành xong); bị cáo bị bắt t m giam từ ngày 30/5/2019 cho đến nay có mặt t i phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có kháng cáo:
1. Ông Trần Ngọc T sinh năm 1969; địa chỉ thường trú: Số 32 khu phố 7 phường H, quận C, thành phố Cần Thơ; địa chỉ t m trú: Ấp 1 xã M huyện B, tỉnh Bình Dương có mặt.
2. Bà Lý Thị L sinh năm 1969; địa chỉ thường trú: Thị trấn N huyện N, tỉnh Cà Mau; địa chỉ t m trú: Ấp 1 xã M huyện B tỉnh Bình Dương có mặt.
Ngoài ra trong v án còn có các bị cáo khác và người có quyền lợi nghĩa v liên quan bà Nguyễn Ngọc H nhưng không có kháng cáo không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ v án và diễn biến t i phiên tòa nội dung v án được tóm tắt như sau:
Trần Minh P Đặng Thành L và Đinh Minh V là b n quen biết nhau do cùng làm công nhân và t m trú trong lò g ch V thuộc Ấp 1, xã M huyện B tỉnh Bình Dương. Trần Minh P Đặng Thành L và Đinh Minh V đã nhiều lần sử d ng ma túy cùng nhau.
Khoảng 09 giờ ngày 30/5/2019 Trần Minh P rủ Đặng Thành L góp tiền mua ma túy về sử d ng nhưng do không có tiền mua nên cả hai cùng bàn b c với nhau đi gặp Đinh Minh V để hỏi mượn tiền và rủ Đinh Minh V sử d ng chung ma túy. Do Đinh Minh V không có tiền nên Trần Minh P Đặng Thành L nhờ Đinh Minh V đi mượn dùm 500.000 đồng để mua ma túy đến khi nhận tiền lương sẽ góp tiền trả l i thì Đinh Minh V đồng ý. Đinh Minh V đi đến gặp ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1979; địa chỉ thường trú: Xã TT huyện VT tỉnh Kiên Giang làm chung lò g ch mượn 500.000 đồng rồi đưa cho Đặng Thành L. Đặng Thành L nói với Đinh Minh V khi nào mua được ma túy sẽ kêu Đinh Minh V cùng sử d ng thì Đinh Minh V g đồng ý. Đặng Thành L từng làm thuê t i lò g ch Q t i phường P thị xã U tỉnh Bình Dương và có quen biết với một người tên C1 bán ma túy nên Đặng Thành L sử d ng điện tho i của mình gọi đến số điện tho i 0797921370 của C1 để đặt mua 500.000 đồng ma túy. C1 đồng ý và hẹn Đặng Thành L đến khu vực cầu B ch Đằng thuộc phường UH thị xã U tỉnh Bình Dương lấy ma túy. Sau đó Đặng Thành L đưa tiền và số điện tho i của C1 cho Trần Minh P để đi lấy ma túy. Trần Minh P điều khiển xe mô tô biển số 65B2-17915 đi đến khu vực cầu B ch Đằng thì có một người thanh niên đến đưa cho Trần Minh P một gói thuốc lá hiệu Jet bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng. Trần Minh P cất gói thuốc lá vào túi quần phía trước bên phải rồi đưa cho người thanh niên này 500.000 đồng. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày khi đang trên đường quay về lò g ch V đến đo n đường thuộc ấp 2 xã M huyện B tỉnh Bình Dương Trần Minh P bị lực lượng Công an xã M tuần tra phát hiện bắt quả tang thu giữ tang vật một gói thuốc lá hiệu Jet bên trong có chứa tinh thể màu trắng.
T i bản Kết luận giám định số 424/MT-PC09 ngày 03/6/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương kết luận chất tinh thể màu trắng thu giữ của Trần Minh P là ma túy lo i Methamphetamine có trọng lượng 0,2319gam.
T i Bản án hình sự sơ thẩm số 46/2019/HS-ST ngày 09/10/2019 của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Bình Dương đã tuyên xử:
Căn cứ:
- Điều 46 Điểm s khoản 1 Điều 51 Điều 58 điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017);
Tuyên bố các bị cáo Trần Minh P ph m tội “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”: Xử ph t bị cáo Trần Minh P 01 (một) năm 9 (chín) tháng tù, Thời h n chấp hành hình ph t tù tính từ ngày 30/5/2019.
Bản án còn tuyên ph t đối với bị cáo Đặng Thành 01 (một) năm 6 (sáu) tháng tù và bị cáo Đinh Minh V 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
2 . Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy một bì thư được niêm phong ghi số 424/MT-PC09 bên trong có chứa chất ma túy lo i Methamphetamine có trọng lượng 0 1743 gam (trọng lượng sau giám định) và một vỏ bao thuốc lá hiệu Jet sử d ng để đựng ma túy (Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 09/9/2019 lập tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện B, tỉnh Bình Dương).
- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: Một xe mô tô biển số 65B2-179.15 số máy E3T6E286976 số khung RLCUE1720HY038176 do Trần Minh P đứng tên chủ s hữu; một điện tho i di động màu đen hiệu OPPO của bị cáo Phương và một điện tho i di động màu đỏ hiệu OPPO của Luân (không kiểm tra tình tr ng bên trong máy).
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các bị cáo.
Ngày 22/10/2019 người có quyền lợi nghĩa v liên quan ông Trần Ngọc T và bà Lý Thị L có đơn kháng cáo về việc xử lý vật chứng: Ông bà yêu cầu được nhận l i xe mô tô biển số 65B2-179.15, số máy E3T6E286976, số khung LCUE1720HY038176 do Trần Minh P đứng tên chủ s hữu.
T i phiên tòa, ông Trần Ngọc T và bà Lý Thị L vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Đ i diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa trình bày quan điểm giải quyết v án: Về thời h n kháng cáo đơn kháng cáo của ông Trần Ngọc T và bà Lý Thị L đúng theo thời h n luật định. T i phiên tòa phúc thẩm bị cáo Trần Minh P hoàn toàn nhận tội và bị cáo không có kháng cáo về phần hình ph t. Tuy nhiên ông Trần Ngọc T và bà Lý Thị L có đơn kháng cáo về phần xử lý vật chứng đối với xe mô tô biển số 65B2-179.15 do Trần Minh P đứng tên chủ s hữu: xét thấy t i biên bản ghi lời khai của bà Lý Thị L, ông Trần Ngọc T và bà Nguyễn Ngọc H đều chứng minh xe trên do ông Trần Ngọc T và bà Lý Thị L vay tiền của bà Nguyễn Ngọc H để mua nhưng do ông bà không biết chữ nên nhờ Trần Minh P đứng tên. Bà Nguyễn Ngọc H cũng xác nhận sự việc trên và có cung cấp giấy cam kết bán trả góp giữa bà Nguyễn Ngọc H và bà Lý Thị L. Như vậy đủ căn cứ chứng minh rằng xe mô tô biển số 65B2-179.15 là tài sản của bà Lý Thị L, ông Trần Ngọc T. Do đó Tòa án cấp sơ thẩm tuyên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước xe mô tô biển số 65B2-179.15 là chưa phù hợp. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của người có quyền lợi nghĩa v liên quan sửa nội dung bản án bản án sơ thẩm trả xe mô tô biển số 65B2-179.15 cho người có quyền lợi nghĩa v liên quan là ông Trần Ngọc T và bà Lý Thị L.
Trong lời nói sau cùng bị cáo không kháng cáo và đang chấp hành án bị cáo mong Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của người có quyền lợi nghĩa v liên quan.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ s nội dung v án căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ v án đã được tranh t ng t i phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Khoảng 13 giờ 00 phút, ngày 30/5/2019, t i khu vực cầu B ch Đằng thuộc phường UH thị xã U tỉnh Bình Dương bị cáo Trần Minh P có hành vi điều khiển xe mô tô biển số 65B2 – 179.15 đến khu vực cầu B ch Đằng để nhận một gói thuốc lá hiệu Jet bên trong có chứa 0 2319 gam ma túy lo i Methamphetamine (theo Kết luận giám định số 424/MT-PC09 ngày 03/6/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương). Sau đó bị cáo Trần Minh P quay về thì bị công an bắt quả tang m c đích bị cáo mua ma túy là để sử d ng.
Do đó Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáoTrần Minh P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung “Heroin, cocain, Methamphetamine” theo quy định t i điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là đúng người đúng tội đúng quy định của pháp luật.
Bị cáo không kháng cáo đối với nội dung bản án sơ thẩm.
Xét kháng cáo của người có quyền lợi nghĩa v liên quan là bà Lý Thị L, ông Trần Ngọc T: Hội đồng xét xử xét thấy t i phiếu trả lời xác minh phương tiện giao thông cơ giới đường bộ của Công an tỉnh Bình Dương xác định xe mô tô biển số 65B2-179.15 là do Trần Minh P làm chủ xe. Tuy nhiên t i biên bản ghi lời khai Trần Minh P ngày 14/6/2019; biên bản ghi lời khai ông Trần Ngọc T ngày 20/6/2019 và 30/8/2019; biên bản ghi lời khai bà Lý Thị L ngày 30/8/2019, biên bản lấy lời khai bà Nguyễn Ngọc Hương ngày 04/9/2019 đều xác nhận: Ông Trần Ngọc T và bà Lý Thị L vay của bà Nguyễn Ngọc H số tiền 35.000.000 đồng để mua trả góp xe mô tô trên. Nhưng do ông Thảo và bà Lành không biết chữ nên để cho con là Trần Minh P đứng tên trên giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô xe máy. Bà Nguyễn Ngọc H cũng xác nhận ông Trần Ngọc T và bà Lý Thị L có mượn của bà Nguyễn Ngọc H 35.000.000 đồng để mua xe máy nhưng thay vì làm giấy mượn tiền thì giữa hai bên làm giấy cam kết bán trả góp. Ngoài ra theo lời khai của Trần Minh P và ông Trần Ngọc T thì ngày 30/5/2019, khi Trần Minh P đi mua ma túy có hỏi mượn xe ông Trần Ngọc T để đi mua đồ ăn. Do đó đủ căn cứ để xác định xe mô tô biển số 65B2-179.15 là tài sản hợp pháp của vợ chồng ông Trần Ngọc T và bà Lý Thị L. Trần Minh P mượn xe đi mua đồ ăn nhưng l i dùng xe vào thực hiện việc ph m tội ông Trần Ngọc T và bà Trần Thị L không biết do đó căn cứ quy định t i Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của người có quyền lợi nghĩa v liên quan sửa nội dung quyết định của bản án sơ thẩm về xử lý vật chứng.
Ý kiến của đ i diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Các phần khác của quyết định án sơ thẩm không có kháng cáo kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.
Án phí hình sự phúc thẩm: Ông Trần Ngọc T và bà Lý Thị L không phải nộp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và Điều 357 Bộ luật Tố t ng hình sự;
1/ Chấp nhận kháng cáo của người có quyền lợi nghĩa v liên quan ông Trần Ngọc T và bà Lý Thị L; sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 46/2019/HS-ST ngày 09/10/2019 của Tòa án nhân dân huyện B tỉnh Bình Dương về xử lý vật chứng như sau:
- Trả l i cho ông Trần Ngọc T và bà Lý Thị L: Một xe mô tô biển số 65B2-179.15 số máy E3T6E286976 số khung LCUE1720HY038176 (không kiểm tra tình tr ng bên trong máy).
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 09/9/2019 lập tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện B, tỉnh Bình Dương).
2/ Về án phí hình sự phúc thẩm: Áp d ng Điều 136 của Bộ luật Tố t ng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường v Quốc hội quy định về mức thu miễn giảm thu nộp quản lý và sử d ng án phí và lệ phí Tòa án:
Ông Trần Ngọc T và bà Lý Thị L không phải nộp. Trả l i cho ông Trần Ngọc T và bà Lý Thị L mỗi người 300.000 đồng tiền t m ứng án phí đã nộp theo các Biên lai thu tiền t m ứng án phí lệ phí Tòa án số 0030786 và 0030785 ngày 27/11/2019 t i Chi c c Thi hành án dân sự huyện B tỉnh Bình Dương.
3/ Các phần khác của quyết định án sơ thẩm không có kháng cáo kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời h n kháng cáo kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bình Dương; 1 - TAND huyện B; 2 - VKSND huyện B; 1 - Chi c c THADS huyện B; 1 - Công an huyện B; 1 - Phòng PV06 - Công an tỉnh BD; - S Tư pháp tỉnh Bình Dương; - Bị cáo; người có quyền lợi nghĩa v liên quan; 3 - Tổ HCTP; 2 - Lưu: HSVA, Tòa HS. 3 | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Huỳnh Đức |