- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Xin ly hôn"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Duy K.
- Căn cứ chính? Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 39/2020/HNGĐ-ST Ngày: 10-4-2020. V/v:“Tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Xuân
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Văn Chánh – Cán bộ hưu trí.
2. Bà Huỳnh Thị Kim Kiên– Hội liên hiệp phụ nữ thành phố B.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Trần Nhàn – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Đông-Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 4 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố B – tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 1850/2019/TLST-HNGĐ ngày 21/8/2019, về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 02 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 42/2020/QĐST-HPT ngày 11/3/2020, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Duy K, sinh năm 1989;
Địa chỉ: 56/10, Phan Đình Phùng, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
2. Bị đơn: Bà Lê Thị C, sinh năm 1985;
Địa chỉ: 203B2, chung cư 2.3, khu phố 3, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
(Ông K xin vắng mặt, bà C vắng mặt )
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, tại bản tự khai nguyên đơn ông K trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Ông và bà C kết hôn từ năm 2017, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, nhưng sau đó vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn và ngày càng trầm trọng nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống và lối sống. Nay ông xác định không còn tình cảm với bà C mục đích hôn nhân không đạt được nên xin được ly hôn.
Về con chung: Không có.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình thụ lý và giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng và giấy triệu tập, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho bà Lê Thị C đến Tòa làm việc, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bà C vắng mặt không có lý do nên không có lời khai.
Ý kiến đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án được thực hiện đúng quy định. Bị đơn thực hiện không đúng.
- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị hội đồng xét xử chấp nhận đơn yêu cầu xin ly hôn của ông K. Về con chung: Không có nên không đặt ra giải quyết. Về tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra giải quyết. Ông K phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật, tư cách đượng sự: Ông Nguyễn Duy K yêu cầu được ly hôn với bà Lê Thị C. Căn cứ vào Điều 28, Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự xác định quan hệ pháp luật tranh chấp của vụ án là “Tranh chấp ly hôn”; ông Nguyễn Duy K là nguyên đơn, bà Lê Thị C là bị đơn.
Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Ông Nguyễn Duy K nộp đơn yêu cầu giải quyết ly hôn với bà Lê Thị C hiện đang cư trú tại 203B2, chung cư 2.3, khu phố 3, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Về thủ tục tố tụng: Ông Nguyễn Duy K nộp đơn yêu cầu giải quyết ly hôn với bà Lê Thị C, hiện đang cư trú tại 203B2, chung cư 2.3, khu phố 3, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Ông K có đơn xin xét xử vắng mặt. Tòa án đã tống đạt hợp lệ giấy triệu tập Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa theo quy định của pháp luật, nhưng bị đơn là bà Lê Thị C vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Duy K và bà bà Lê Thị C kết hôn trên cơ sở tự nguyện và đã được Ủy ban nhân dân phường Q, thành phố B, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận kết hôn số 101/KH ngày 13/11/2017 nên áp dụng Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2015 xác định là hôn nhân hợp pháp. Theo ông K trình bày quá trình chung sống vợ chồng không hạnh phúc. Nguyên nhân chủ yếu là vợ chồng bất đồng về quan điểm sống và lối sống. Nay ông K xét thấy tình cảm với bà C không còn nên ông yêu cầu ly hôn. Tòa án cũng đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng và giấy triệu tập, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho bà C đến Tòa làm việc, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bà C vẫn vắng mặt, cho thấy bà C không muốn níu kéo cuộc hôn nhân này. Mặt khác, theo Biên bản xác minh nơi bà C, ông K đã từng sống chung thì địa phương cho biết hiện bà C vẫn đang cư trú tại địa phương nhưng vì giữa hai vợ chồng xảy ra mâu thuẫn nên hiện đang sống ly thân. Xét thấy mâu thuẫn giữa bà C, ông K đã thật sự trầm trọng, không có khả năng hàn gắn đoàn tụ, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên việc ông K xin ly hôn với bà C là có cơ sở. Do đó, Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông K.
Về con chung: Đương sự trình bày là không có nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Về tài sản chung: Đương sự trình bày là không có nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Về nợ chung: Đương sự trình bày là không có, nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Về án phí: Ông K phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 203, Điều 220, Điều 238, Điều 266, Điều 273 Bộ Luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000; Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Duy K.
1. Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Duy K được ly hôn với bà Lê Thị C.
2. Về con chung: Đương sự trình bày là vợ chồng không có, nên không đặt ra xem xét giải quyết.
3. Về tài sản chung: Đương sự trình bày là vợ chồng không có, nên không đặt ra xem xét giải quyết.
4. Về nợ chung: Đương sự trình bày là không có, nên không đặt ra xem xét giải quyết.
5. Về án phí: Ông Nguyễn Duy K phải chịu tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) được khấu trừ tiền tạm ứng án phí ông đã nộp tại biên lai thu tiền số 0000073 ngày 07/8/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố B.
Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - Tòa án tỉnh Đồng Nai; - Viện kiểm sát nhân dân TP B; - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai; - Chi cục THADS TP B; - Các đương sự; - UBND nơi cấp giấy ĐKKH; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Phạm Thị Thanh Xuân |