vanban.org

Bản án 39/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Phạm Thị Th và anh Phạm Sỹ Đ.

Về nuôi con chung: Chị Th và anh Đ có 03 con chung là Phạm Sỹ Th1, sinh ngày 21 tháng 8 năm 2011; Phạm Sỹ Th2, sinh ngày 09/10/2012; Phạm Thị Ngọc B, sinh ngày 21 tháng 8 năm 2015. Giao các cháu cho anh Đ tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc chị Th không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Chị Th có quyền, nghĩ…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ Phạm Thi Th-Phạm sỹ D Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Phạm Thị Th và anh Phạm Sỹ Đ.
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU ĐỨC
TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 39/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 13-10-2020
“V/v Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU ĐỨC, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đào Trọng Hải.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trần Thị Hạnh.

2. Bà Võ Lệ Huyền.

-Thư ký phiên tòa: Bà Tạ Thị Mỹ Hạnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Hồng Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 10 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Đức xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 515/2019/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 12 năm 2019 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 9 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện Châu Đức giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Th, sinh năm 1986.

Hộ khẩu thường trú: 111/15/12/1 LĐC, phường TT, Quận Bình Tân, TP Hồ Chí Minh.

Chổ ở hiện nay: 599 TTN1, phường TTN, Quận 12, TP Hồ Chí Minh.

Bị đơn: Anh Phạm Sỹ Đ, sinh năm 1986.

Hộ khẩu thường trú: Tổ 03, ấp KB, xã BG, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

Chổ ở hiện nay: Tổ 03, ấp KB, xã BG, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu. (Chị Th có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa, anh Đ vắng mặt không lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết, nguyên đơn chị Phạm Thị Th trình bày: Sau khi tìm hiểu nhau được một thời gian chị Phạm Thị Th và anh Phạm Sỹ Đ và tổ chức đám cưới vào năm 2010 đăng ký kết hôn vào ngày 24 tháng 11 năm 2011 tại Ủy ban nhân dân (UBND)xã BG, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu hôn nhân trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn cuộc sống vợ chồng hạnh phúc được một thời gian cho đến năm 2015 thì phát sinh mẫu thuẫn. Nguyên nhân do anh Đ đi làm nhưng không phụ giúp kinh tế để cùng chị Th trang trải trong gia đình và nuôi dạy con, anh Đ chỉ ham chơi, thường xuyên cờ bạc, rượu chè, gây nợ nần, bất hòa liên tục xảy ra, về nhà anh Đ còn đánh đập chị Th, không quan tâm đến gia đình, dẫn đến vợ chồng thường xuyên cải vã, ngoài ra anh Đến còn cập bồ, không chung thủy, đối với gia đình vợ thì không tôn trọng, đến năm 2017 thì mâu thuẫn ngày càng nhiều, trầm trọng và gây gắt. Từ đó vợ chồng không còn tình cảm, không quan tâm đến nhau, cuộc sống gia đình không còn hạnh phúc.

Do thấy chồng không quan tâm đến gia đình, mà cuộc sống vợ chồng không còn êm ấm nên chị Th đã bỏ về gia đình cha mẹ ruột để sinh sống từ năm 2017 cho đến nay. Cũng từ đó hai vợ chồng sống ly thân, khi chị Th về thăm con thì anh Đ gây chuyện, vì vậy khi về thăm con chị Th không gặp anh Đ nên vợ chồng không gặp được nhau, không liên lạc để hàn gắn lại hạnh phúc gia đình. Từ đó vợ chồng sống ly thân và kéo dài cho đến nay tình cảm vẫn không được cải thiện, nay chị Th xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Châu Đức giải quyết các vấn đề sau:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị Th yêu cầu được ly hôn với anh Phạm Sỹ Đ.

Về nuôi con chung: Chị Th và anh Đ có 03 con chung là Phạm Sỹ Th1, sinh ngày 21 tháng 8 năm 2011; Phạm Sỹ Th2, sinh ngày 09/10/2012; Phạm Thị Ngọc Bh, sinh ngày 21 tháng 8 năm 2015. Các cháu đang do anh Đ nuôi, nay do chị Th vì cuộc sống nên phải xa nhà nên chưa ổn định về chồ ở, chưa đủ điều kiện nuôi con, tạm thời giao cho anh Đ nuôi dưỡng, chị Th không cấp dưỡng nuôi con. Sau này khi cuộc sống ổn định, có điều kiện thì sẽ yêu cầu thay đổi việc nuôi con chung.

Về chia tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với anh Phạm Sỹ Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn cố tình vắng mặt không có lý do vì vậy không thể lấy lời khai và tiến hành hòa giải được.

Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án thì Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Bị đơn không thực hiện đúng phần quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn.

Về nuôi con chung: Chị Th và anh Đ có 03 con chung là Phạm Sỹ Th1, sinh ngày 21 tháng 8 năm 2011; Phạm Sỹ Th2, sinh ngày 09/10/2012; Phạm Thị Ngọc B, sinh ngày 21 tháng 8 năm 2015. Giao ba cháu cho anh Đ tiếp tục nuôi dưỡng và chị Th không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về chia tài sản chung, nợ chung: Chị Th không yêu cầu nên không giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Chị Th và anh Đ sống chung với nhau có đăng ký kết hôn, nay chị Th yêu cầu ly hôn nên đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình. Nơi cư trú của anh Đ là Tổ 03, ấp KB, xã BG, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu, nên Tòa án nhân dân huyện Châu Đức thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Chị Th vắng mặt nhưng đã có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt nên Tòa án xét xử vắng mặt theo quy định tại khoản 2 Điều 227; Khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Anh Đ đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai (không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan) nhưng vẫn vắng mặt nên Tòa án xét xử vắng mặt theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Th và anh Đ trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn vào ngày 24 tháng 01 năm 2011 tại UBND xã BG, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. Sau khi kết hôn, cuộc sống vợ chồng hạnh phúc, từ năm 2015 thì phát sinh mẫu thuẫn kéo dài cho đến nay, mặc dù chị Th cố gắng hàn gắn cuộc sống vợ chồng, nhưng vẫn không được cải thiện mà mâu thuẫn ngày càng trầm trọng thêm, theo chị Th nguyên nhân mâu thuẫn do anh Đ đi làm nhưng không phụ giúp tiền bạc để cùng chị Th trang trải trong gia đình và nuôi dạy con, anh Đ chỉ ham chơi, thường xuyên cờ bạc, rượu chè, gây nợ nần, không quan tâm đến gia đình, thường xuyên cải vã, đánh đập chị Th, nên vợ chồng thường xuyên bất hòa, mâu thuẫn liên tục xảy ra, ngoài ra anh Đ còn cập bồ, không chung thủy với vợ, đối với gia đình vợ thì không tôn trọng.

Từ đó chị Th thấy buồn chán, cuộc sống hôn nhân của vợ chồng không đạt được, nên chị Th bỏ về bên nhà gia đình cha mẹ ruột để sinh sống. Từ đó vợ chồng sống ly thân, mạnh ai nấy sống, vợ chồng cũng không gặp nhau, không quan tâm đến việc đoàn tụ để tạo lại dựng hạnh phúc gia đình. Cho đến nay chị Th xét thấy cuộc sống vợ chồng lạnh nhạt, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt, ảnh hưởng đến việc nuôi dạy con nên yêu cầu được ly hôn với anh Đ.

Sau khi thụ lý đơn yêu cầu ly hôn của chị Th, Tòa án đã tiến hành triệu tập anh Đ để làm việc và hoà giải về quan hệ hôn nhân, nhưng anh Đ vẫn cố tình không đến không lý do, điều đó chứng tỏ anh Đ không có thiện chí để đoàn tụ với chị Th để cùng nhau xây dựng hạnh phúc gia đình nuôi dạy con chung. Ngoài ra theo kết quả xác minh thì mâu thuẫn giữa chị Th và anh Đ là có thật đã xảy ra từ năm 2015, vợ chồng cũng ly thân từ 2017 cho đến nay. Từ khi vợ chồng ly thân đã trải qua một thời gian dài khá lâu nhưng cũng không có biện pháp gì để hàn gắn lại hạnh phúc của gia đình.

Như vậy, cho thấy tình trạng hôn nhân giữa chị Th và anh Đ ngày càng trầm trọng, đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử cho chị Th được ly hôn với anh Đ.

Về nuôi con chung: Chị Th và anh Đ có 03 con chung là Phạm Sỹ Th1, sinh ngày 21 tháng 8 năm 2011; Phạm Sỹ Th2, sinh ngày 09/10/2012; Phạm Thị Ngọc B, sinh ngày 21 tháng 8 năm 2015.

Từ ngày vợ chồng sống ly thân đến nay anh Đ đã trực tiếp nuôi các con, nay chi Th đồng ý giao cho anh Đ nuôi con và không cấp dưỡng, để cuộc sồng các cháu không bị xáo trộn nên giao con cho anh Đ nuôi dưỡng là có căn cứ nghĩ nên chấp nhận.

Về chia tài sản chung, nợ chung: Chị Th không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

Về án phí: Chị Th phải nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm (DSST) đối với yêu cầu ly hôn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Căn cứ vào Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình.

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Phạm Thị Th và anh Phạm Sỹ Đ.

2. Về nuôi con chung: Chị Th và anh Đ có 03 con chung là Phạm Sỹ Th1, sinh ngày 21 tháng 8 năm 2011; Phạm Sỹ Th2, sinh ngày 09/10/2012; Phạm Thị Ngọc B, sinh ngày 21 tháng 8 năm 2015. Giao các cháu cho anh Đ tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc chị Th không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Chị Th có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà mình không trực tiếp nuôi dưỡng không ai được quyền cản trở.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.

3. Về chia tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phí: Chị Phạm Thị Th phải nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí DSST đối với yêu cầu ly hôn nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) mà chị Th đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Đức theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số TU/2019/0002725 ngày 03 tháng 12 năm 2019; Chị Phạm Thị Th đã nộp xong án phí DSST đối với yêu cầu ly hôn.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (13-10-2020) các đương sự được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu xin xét xử phúc thẩm, đối với các đương sự vắng mặt được tính từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án.

Nơi gởi:

Cỡ chữ