vanban.org

Bản án 39/2019/HSST — Hình sự

TAND Q. Ba Đình, TP. Hà Nội Tuyên án 09/04/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Trần Văn T 16 (Mười sáu) tháng tù về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy“, thời hạn tù được tính từ ngày 13/12/2018. Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong bên trong chứa 0,160 gam Heroine đã qua giám định, có chữ ký của giám định và Trần Văn T theo biên bản giao vật chứng số: 52/CSĐT (Đ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 39/2019/HSST
Ngày: 09/4/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Xuân Thắng

- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Uông Thị Hoa

Ông Tạ Duy Hùng

Thư ký phiên tòa: Bà Phan Lan Hương – Thư ký Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Phương Thảo - Kiểm sát viên.

Ngày 09/4/2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội; Toà án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 32/2019/HSST ngày 18/3/2019 đối với bị cáo: Trần Văn T; Sinh năm: 1968; HKTT và nơi ở: P, phường P, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: không; Văn hóa: 10/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Trần Văn M (đã chết); Con bà: Ngô Thị T (đã chết); Họ và tên vợ: Mã Thị T – sinh năm 1978, bị cáo có 01 con. Tiền sự: không; Tiền án: 02 (đã xóa): Bản án số 1054/24.10.1996 Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử 18 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản (trị giá 9.000.000 đồng); Bản án số 191/21.7.2011 Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm xử 26 tháng tù giam về tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 13/12/2018. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11h30 ngày 13/12/2018, tại trước cửa nhà A đường H, Ba Đình, Hà Nội, tổ công tác CSĐT tội phạm về ma túy – công an quận Ba Đình tiến hành kiểm tra hành chính đối với Trần Văn T, đã phát hiện trong túi áo khoác ngoài bên phải T đang mặc: 01 gói nilon màu trắng bên trong có 01 gói bạc màu vàng chứa chất bột màu trắng. T khai nhận là Heroine, mua về để sử dụng. Tổ công tác đã đưa T cùng tang vật về trụ sở Công an quận Ba Đình để giải quyết.

Tổ công tác đã thu giữ: 01 gói nilon màu trắng bên trong có 01 gói bạc màu vàng chứa chất bột màu trắng; 01 điện thoại di động Nokia 1202 màu xanh đã qua sử dụng; 01 xe đạp nhãn hiệu Shimono màu đen đã qua sử dụng.

Kết luận giám định số 9403/KLGĐ-PC09 ngày 19/12/2018 của Phòng kỹ thuật Hình sự - Công an Thành phố Hà Nội xác định: “Chất bột màu trắng bên trong 01 gói bọc ngoài bằng nilon trong gói bằng giấy bạc màu vàng là ma túy loại Heroine, tổng khối lượng 0,160 gam”.

Tại cơ quan điều tra, bị cáo Trần Văn T đã khai nhận hành vi phạm tội như sau: Khoảng 10h00 ngày 13/12/2018, T đi xe đạp từ nhà đến khu vực K, Ba Đình, Hà Nội mua của 01 người đàn ông không quen biết 01 gói Heroine với giá 100.000 đồng, mục đích về để sử dụng. Mua xong, T cất gói ma túy vào trong túi áo khoác ngoài bên phải đang mặc và đi tìm nơi sử dụng. Khi đi đến trước cửa nhà A đường H, phường Phúc Xá, quận Ba Đình, TP Hà Nội thì bị tổ công tác Công an quận Ba Đình kiểm tra, bắt quả tang cùng vật chứng.

Về nguồn gốc số ma túy, T khai mua của một đối tượng không rõ tên, tuổi, địa chỉ nên cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra, xử lý.

Đối với chiếc xe đạp nhãn hiệu Shimono màu đen đã qua sử dụng, thuộc sở hữu hợp pháp của ông Trần Văn H (sinh năm 1962, HKTT: P, phường P, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nôi) là anh trai của Trần Văn T. Ông H cho T mượn xe đạp, không biết T sử dụng vào mục đích phạm tội nên cơ quan cảnh sát điều tra – Công an quận Ba Đình đã trao trả chiếc xe đạp cho ông H . Đối với chiếc điện thoại di động Nokia 1202 màu xanh đã qua sử dụng, số imei: 351992049714853 thu giữ của Trần Văn T, cơ quan điều tra xác định thuộc sử hữu của chị Mã Thị T (sinh năm 1978, HKTT: P, phường P, quận Hoàn Kiếm, TP Hà Nội). Do vậy, cơ quan điều tra đã tiến hành trao trả lại chiếc điện thoại trên cho chị T.

Tại cáo trạng số 36/CT-VKS ngày 13 tháng 3 năm 2019, Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình đã truy tố bị cáo T về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Trần Văn T về tội tàng trữ trái phép chất ma túy như cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 47 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo T mức án từ 14 tháng đến 16 tháng tù; không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo. Tịch thu tiêu hủy số ma túy đã thu giữ của bị cáo.

Bị cáo Trần Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trên và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Ba Đình, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản tạm giữ đồ vật tài liệu, biên bản niêm phong tang vật, kết luận giám định và phù hợp với các biên bản, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án mà Cơ quan điều tra đã thu thập được. Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình truy tố bị cáo về hành vi phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy là có căn cứ. Hội đồng xét xử chấp nhận những chứng cứ buộc tội của Viện kiểm sát và đề nghị của Kiểm sát viên về quan điểm giải quyết vụ án.

Những chứng cứ trên đã có đủ cơ sở xác định: Khoảng 11h30 ngày 13/12/2018, tại trước cửa nhà A đường H, phường Phúc Xá, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội, Trần Văn T đã có hành vi tàng trữ trái phép 01 gói heroine, tổng khối lượng 0,160 gam, mục đích để sử dụng đã bị tổ công tác CSĐT tội phạm về ma túy Công an quận Ba Đình bắt quả tang cùng vật chứng.

Hành vi phạm tội của bị cáo T là nguy hiểm cho xã hội, vì ma túy là chất gây nguy hại cho con người và cho xã hội, nó làm tha hóa đạo đức, lối sống, làm mất lý trí con người, làm tan vỡ nhiều hạnh phúc gia đình; đồng thời ma túy còn là mầm mống cho các loại tội phạm khác, như tội trộm cắp, tội cướp, cướp giật... Nhà nước thống nhất quản lý và có chính sách tuyên truyền rộng khắp trên các phương tiện thông tin đại chúng để mọi người phòng tránh. Bởi vậy, cần phải có một hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Khi lượng hình phạt: Bị cáo có 02 tiền án đã được xóa nhưng không lấy đó làm bài học cho bản thân mà còn tiếp tục phạm tội, thể hiện bị cáo có thân nhân xấu. Tuy nhiên, tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa đã khai báo thành khẩn, nên để cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Hình phạt bổ sung: Do bị cáo T không có nghề nghiệp ổn định nên xét không áp dụng phạt tiền làm hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Vật chứng của vụ án đã bàn giao cho Chi cục Thi hành án dân sự quận Ba Đình gồm: 01 gói niêm phong trong có ma túy loại Heroine trọng lượng 0,160 gam, đây là vật cấm lưu hành và không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy theo điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Bị cáo T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 47 Bộ luật hình sự 2015;

Căn cứ khoản 2 điều 106; Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Căn cứ Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội:

Xử phạt: Trần Văn T 16 (Mười sáu) tháng tù về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy“, thời hạn tù được tính từ ngày 13/12/2018.

Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong bên trong chứa 0,160 gam Heroine đã qua giám định, có chữ ký của giám định và Trần Văn T theo biên bản giao vật chứng số: 52/CSĐT (ĐTMT) ngày 13 tháng 3 năm 2019.

Bị cáo Trần Văn T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ