- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn M - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Căn cứ khoản 1, Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 39/2019/HSST Ngày: 23 - 7 - 2019 |
N H Â N D A N H
NUỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH – TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kim Thu.
Các Hội thẩm nhân dân :
Ông Nguyễn Văn Chuyết
Bà Đoàn Thị Dịu
- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Ngát - Thư ký TAND huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định.
- Đại diện VKSND huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Quỳnh Phượng - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 7 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định mở phiên toà sơ thẩm công khai xét xử vụ án hình sự thụ lý số: 36/2019/HSST ngày 03 tháng 7 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2019/HSST- QĐ ngày 11 tháng 7 năm 2019 đối với bị cáo:
Trần Văn M - Sinh năm: 1989; Nơi cư trú: Đội 6, xã T, huyện T, tỉnh Nam Định; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Trần Văn H, sinh năm 1960; Con bà: Đào Thị L, sinh năm: 1967; Có vợ: Ninh Thị D, sinh năm 1988 (Đã ly hôn); có 01 con
sinh
năm
2012.
Tiền
án,
tiền
sự:
Không;
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 05/6/2019, tạm giam từ ngày 08/6/2019 đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ, ngày 04/6/2019, Trần Văn M đi xe máy từ nhà mang theo 600.000đ xuống khu vực chợ G, xã G, huyện G, tỉnh Nam Định mục đích mua ma túy về sử dụng và bán kiếm lời. Đến nơi M đi vào trong chợ thì gặp một người đàn ông không quen biết khoảng 40 tuổi đến gặp M. Người đàn ông hỏi M: “Lấy đá hay lấy trắng, lấy bao nhiêu”, ý hỏi M mua ma túy đá hay Heroin. M hiểu ý và nói: “Để em hai phân trắng” đồng thời lấy ra 600.000đ đưa cho người đàn ông đó, người đàn ông nhận tiền rồi đưa cho M 02 gói Heroin được gói trong giấy báo, M cầm cất giấu trong người rồi đi về. Về đến nhà M chia 02 gói Heroin vừa mua được thành 8 phần nhỏ mục đích ai hỏi mua thì bán 01 gói giá 200.000đ. M sử dụng 02 gói còn 06 gói Heroin . Khoảng 8h50’ ngày 05/6/2019, M đang ở nhà thì có Vũ Văn B, sinh năm 1992 ở tổ dân phố B, thị trấn C, huyện T, tỉnh Nam Định là người nghiện ma túy, quen biết với M từ trước, cùng uống Methadone tại trung tâm y tế huyện Trực Ninh gọi điện cho M hỏi: “Để cho em hai trăm, em đang uống thuốc trên đây”, hiểu ý B hỏi mua 01 gói Heroin với giá 200.000đ. M đồng ý nói: “Giờ tao lên uống thuốc tao đưa cho”. Sau đó M lấy túi nilon đựng 06 gói Heroin ra gắn nam châm vào khung xe mô tô đi lên thị trấn C, huyện T, tỉnh Nam Định. Khoảng 9h30’ cùng ngày M đi đến đường trục Bệnh viện gần giáp Trung tâm y tế huyện Trực Ninh thuộc tổ dân phố T, thị trấn C, huyện T thì gặp B đang ngồi trên xe mô tô dừng ngay phía trong đường dong ngõ. B nói với M: “Có ai theo sau không”. M nói: “ Không” rồi lấy túi nilon đựng Heroin đang cất giấu ở khung trước xe mô tô ra lấy 01 gói Heroin cầm trên tay trái, cất 05 gói còn lại trong túi nilon đem dính lại giấu ở khung phía trước xe mô tô. Cùng lúc B cũng cầm 200.000 đồng để đưa cho M. Khi M đang đưa gói Heroin cho B, B đưa số tiền 200.000đ đưa cho M thì bị tổ công tác Công an huyện Trực Ninh, Công an thị trấn Cổ Lễ phát hiện bắt quả tang hồi 10 giờ cùng ngày.
Vật chứng thu giữ:
Thu giữ tại bàn tay trái M đang cầm 01 gói giấy báo, bên trong có chứa chất bột dạng đục màu trắng, M khai đó là gói Heroin đang bán cho B, được niêm phong ký hiệu M1.
Thu giữ tại bàn tay phải của B đang cầm 200.000đ, B khai là tiền sử dụng mua ma túy của M.
Thu giữ tại khung xe cạnh ổ khóa xe mô tô của M 01 túi nilon màu trắng xanh, tại miệng túi có gắn nam châm để gắn vào khung xe bên trong có 05 gói giấy báo, bên trong đều chứa chất bột dạng đục màu trắng (M khai đó là 05 gói Heroin cất giấu để bán cho người khác), niêm phong ký hiệu là M2. Ngoài ra còn thu giữ của M 01 xe mô tô BS: 59 B1- 22998; thu giữ của B và M mỗi người 01 điện thoại di động. Khám xét khẩn cấp chỗ ở của bị cáo thu giữ 01 chai nhựa, tại phần nắp nhựa màu xanh có gắn 01 ống hút nhựa và 01 ống thủy tinh có một đầu uống cong nối với hình cầu hở là dụng cụ để sử dụng ma túy.
Tại bản kết luận giám định số 556/GĐKTHS ngày 07/6/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định kết luận: Mẫu ký hiệu M1, M2 gửi giám định đều là chất ma túy, loại ma túy Heroin, khối lượng M1: 0,056 gam, khối lượng M2: 0,248 gam.
Đối với Vũ Văn B đã có hành vi mua 01 gói Heroin có khối lượng 0,056 gam với mục đích để sử dụng, do chưa đủ lượng để xử lý B về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trực Ninh đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính.
Đối với người đàn ông không quen biết M đã khai đã bán ma túy tại khu vực chợ G, huyện G, tỉnh Nam Định, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trực Ninh đã tiến hành xác minh nhưng không xác định được là ai để xử lý.
Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Sony màu đen, đã cũ thu giữ của Trần Văn M, sau khi xác minh là điện thoại của bà Đào Thị L (là mẹ đẻ của M), bà L không biết M mượn điện thoại để mua bán ma túy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trực Ninh đã trả lại cho bà L.
Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu trắng hồng, đã cũ thu giữ của Vũ Văn B, sau khi xác minh là điện thoại của anh Vũ Văn V, Sinh năm 1991, anh V không biết B mượn điện thoại để mua bán ma túy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trực Ninh đã trả lại cho anh V.
Đối với chiếc mô tô BS: 59 B1-22998 thu giữ của Trần Văn M là phương tiện M dùng để đi mua ma túy và bán ma túy cho người khác. Tuy nhiên qua xác minh số khung, số máy của xe không trùng khớp với biển số xe và tên chủ sở hữu theo đăng ký tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trực Ninh. Do vậy Cảnh sát điều tra Công an huyện Trực Ninh tách ra để xử lý sau.
Tại cơ quan điều tra Trần Văn M đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.
Bản cáo trạng số: 37/CT-VKS ngày 02/7/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định truy tố bị cáo Trần Văn M về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà:
Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu ở trên, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện VKSND huyện Trực Ninh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật đã viện dẫn tại bản cáo trạng nêu trên, sau khi luận tội đã đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Trần Văn M phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 BLHS, xử phạt: Trần Văn M từ 30 tháng đến 36 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Vật chứ ng: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm b khoản 2 Điều 106 BLTTHS: Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 200.000đ đã thu giữ của Vũ Văn B là số tiền B mua ma túy của M. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS: Tịch thu tiêu huỷ toàn bộ số Hêroin đã thu giữ của Trần Văn M và 01 chai nhựa (có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 03/7/2019 giữa CQCSĐT Công an huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định).
Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứ ng cứ và tài liệu đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Trực Ninh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trực Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên toà và tại cơ quan điều tra phù hợp với các chứ ng cứ khác như : Lời khai của người làm chứng; biên bản về việc bắt giữ người phạm tội quả tang; biên bản khám xét; kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án; đã có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Trần Văn M đã có hành vi mua ma túy của một người đàn ông không quen biết tại chợ G, xã G, huyện G, tỉnh Nam Định mang về nhà cất giấu sau đó mang đi bán cho Vũ Văn B thì bị bắt quả tang. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 BLHS.
Bị cáo là người có đủ năng lực, trách nhiệm hình sự, nhận thức được hậu quả nguy hiểm về hành vi phạm tội của mình đối với đời sống xã hội, nhưng vì hám lợi bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Hành vi phạm tội của bị cáo cần phải được xử lý nghiêm mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo, cũng như việc phòng chống tội phạm nói chung. Xét nhân thân, các tình tiết tặng nặng, giảm nhẹ trách nhiện hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.
Về tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, xét thấy nên giảm nhẹ 1 phần hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.
Căn cứ vào tính chất, mức độ cuả hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo và đề nghị của Viện kiểm sát. HĐXX xét thấy, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho xã hội.
Hình phạt bổ sung: HĐXX xét thấy, không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Vật chứng:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm b khoản 2 Điều 106 BLTTHS: cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 200.000đ đã thu giữ của Vũ Văn B là số tiền B để mua ma túy. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS: Tuyên tịch thu tiêu huỷ toàn bộ số Hêroin đã thu giữ của Trần Văn M.
Án phí: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1, Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Trần Văn M phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Xử phạt Trần Văn M 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 05/6/2019.
2. Xử lý vật chứ ng:
- Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm b khoản 2 Điều 106 BLTTHS: Tuyên tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 200.000đ (Số tiền này đã được CQCSĐT Công an huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định gửi tại tài khoản tạm gửi của chi cục Thi hành án huyện Trực Ninh (Theo ủy nhiệm chi chuyển khoản, chuyển tiền điện tử lập ngày 02 tháng 7 năm 2019).
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS. Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số Heroin có trong bì thư số 556/GĐKTHS Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định và 01 chai nhựa (có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng số 36/THA ngày 03 tháng 7 năm 2019), giữa CQCSĐT Công an huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định).
3. Án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự ; Căn cứ Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội qui định về mứ c thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Bị cáo Trần Văn M phải nộp 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Nam Định; - VKSND huyện + tỉnh Nam Định; - Công an huyện Trực Ninh; - Chi cục THADS huyện Trực Ninh; - Người tham gia tố tụng; - UBND xã T; - Lưu HSVA + VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẢM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký và đóng dấu) Nguyễn Thị Kim Thu |