vanban.org

Bản án 39/2019/HSPT — Hình sự

TAND tỉnh Khánh Hòa Tuyên án 25/03/2019 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 25/03/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Huỳnh Văn L, sửa bản án sơ thẩm.

Xử phạt bị cáo HUỲNH VĂN L 1 (một) năm tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 2 năm, kể từ ngày tuyên án phúc thẩm. Giao bị cáo Huỳnh Văn L cho Ủy ban nhân dân xã D, huyện DK, tỉnh KH để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thá… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Huynh Van L - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 1/ Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Huỳnh Văn L, sửa bản án sơ thẩm.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH KH
Bản án số: 39/2019/HSPT
Ngày: 25/3/2019

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà LÂM VƯƠNG MỸ LINH

Các Thẩm phán:

1/ Ông NGUYỄN TUẤN LONG

2/ Bà BÙI THỊ NGHĨA

- Thư ký phiên tòa: Bà LÊ NHƯ TRUNG HẬU – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân

dân tỉnh KH

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh KH tham gia phiên tòa: Ông VÕ

KHÔI TUÂN - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 3 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh KH xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 23/2019/TLPT-HS ngày 18 tháng 01 năm 2019 đối với bị cáo Huỳnh Văn L, do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 62/2018/HSST ngày 28/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện DK, tỉnh KH.

- Bị cáo có kháng cáo:

HUỲNH VĂN L - Sinh năm 1982 tại KH

Nơi cư trú: Thôn Q, xã D, huyện DK, tỉnh KH

Nghề nghiệp: lái xe; Trình độ văn hoá: 09/12; Dân tộc: Kinh;

Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam

Con ông: Huỳnh T (chết) và bà Phạm Thị H - Sinh năm: 1952

Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ ngày 19/01/2018, Huỳnh Văn L điều khiển xe ôtô tải biển kiểm soát 60C-220.10 lưu thông trên đường tỉnh lộ 8 (hướng D – KV). Khi đi đến km 02+800 thuộc xã DS, huyện DK, tỉnh KH, đây là đoạn đường có vạch kẻ phân chia làn đường, L điều khiển xe chạy làn đường bên phải theo hướng lưu hành, phía trước có xe ô tô tải biển kiểm soát 79C-032.09 do Nguyễn Văn L1 điều khiển lưu thông theo hướng ngược lại đi đúng phần đường quy định. Khi xe của L cách xe của L1 khoảng 15m, do L không chú ý quan sát nên đã lấn sang phần đường bên trái và đâm vào xe ô tô biển kiểm soát 79C-032.09 gây tai nạn. Hậu quả xe ô tô biển kiểm soát 79C-032.09 bị hư hỏng nặng.

Tại Bản kết luận định giá về tài sản số 18 ngày 17/5/2018 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện DK kết luận: Xe ô tô biển kiểm soát 79C-032.09 bị hư hỏng thiệt hại 176.947.100 đồng.

Bản án hình sự sơ thẩm số 62/2018/HSST ngày 28/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện DK, tỉnh KH đã quyết định: Căn cứ điểm d, khoản 1 Điều 260, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Huỳnh Văn L 12 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam để thi hành án.

Ngày 10/12/2018, bị cáo Huỳnh Văn L có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Huỳnh Văn L giữ nguyên nội dung kháng cáo. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh KH đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại lời nói sau cùng, bị cáo Huỳnh Văn L xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của kháng cáo:

Đơn kháng cáo được bị cáo nộp trực tiếp cho Tòa án nhân dân huyện DK vào ngày 10/12/2018. Theo quy định tại Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, đơn kháng cáo của bị cáo là hợp pháp, do đó, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm chấp nhận xem xét giải quyết đơn kháng cáo của bị cáo theo trình tự phúc thẩm.

Về trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Tại phiên tòa, bị cáo Huỳnh Văn L thừa nhận toàn bộ hành vi bị cáo đã thực hiện như nội dung bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện DK, tỉnh KH. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Có đủ cơ sở để xác định rằng, vào ngày 19/01/2018, khi điều khiển xe ôtô biển kiểm soát 60C-220.10 đi đến Km 02+800 thuộc xã DS, huyện DK, bị cáo Huỳnh Văn L đã thiếu quan sát, đi lấn sang phần đường bên trái, gây tai nạn giao thông dẫn đến hậu quả làm chiếc xe ô tô biển kiểm soát 79C-032.09 do anh Nguyễn Văn L1 điều khiển bị hư hỏng, thiệt hại 176.947.100 đồng. Như vậy, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm d khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Về nội dung kháng cáo của bị cáo:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến lĩnh vực trật tự an toàn công cộng, xâm phạm đến tài sản của công dân, gây hoang mang lo lắng cho quần chúng nhân dân khi tham gia giao thông. Khi xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy: Bị cáo Huỳnh Văn L là lao động chính trong gia đình có hoàn cảnh khó khăn, có xác nhận của chính quyền địa phương. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo đã tự nguyện bồi hoàn cho Công ty TNHH đá HA1 một phần số tiền Công ty đá HA1 đã thanh toán cho Công ty TNHH TMDV xây dựng KV (có xác nhận của Công ty TNHH đá HA1); đồng thời anh Nguyễn Văn L1 có đơn xác nhận đã được bị cáo bồi thường thêm số tiền tổn thất tinh thần là 4.000.000 đồng. Đây là tình tiết giảm nhẹ thể hiện tinh thần ăn năn hối cải, khắc phục hậu quả do tội phạm gây ra của bị cáo nên Hội đồng xét xử áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với bị cáo.

Xét thấy: Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu, có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nên không cần thiết phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù mà cần giữ nguyên mức hình phạt nhưng cho bị cáo được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách và buộc bị cáo thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm cho rằng có căn cứ để sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Huỳnh Văn L, cần giữ nguyên mức hình phạt tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo.

Về án phí: Bị cáo Huỳnh Văn L không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời gian kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

1/ Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Huỳnh Văn L, sửa bản án sơ thẩm.

Căn cứ vào điểm d khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015;

Xử phạt bị cáo HUỲNH VĂN L 1 (một) năm tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 2 năm, kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Giao bị cáo Huỳnh Văn L cho Ủy ban nhân dân xã D, huyện DK, tỉnh KH để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2/ Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

Bị cáo Huỳnh Văn L không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

3/ Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Cỡ chữ