vanban.org

Bản án 39/2019/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên Tuyên án 04/10/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Về tội danh và hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Lều Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Xử phạt bị cáo Lều Văn T 01 năm 09 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 07/6/2019. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lều Văn T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1] Về tội danh và hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
T PHỐ H
TỈNH HƯNG YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 39/2019/HS-ST
Ngày: 04/10/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN T PHỐ H - TỈNH HƯNG YÊN

- T phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lý.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Vũ Thị Thùy Đông;

Bà Nguyễn Thị Hệ;

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân T phố H tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Tuấn - kiểm sát viên.

Ngày 04/10/2019 tại Hội trường Ủy ban nhân dân xã Quảng Châu, T phố H, tỉnh Hưng Yên mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 40/2019/TLST-HS ngày 28/8/2019, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2019/QĐXXST-HS ngày 20/9/2019, đối với bị cáo:

Họ và tên: Lều Văn T, sinh năm 1985 tại xã LP, T phố H, tỉnh Hưng Yên; Nơi cư trú: Đội M, thôn AC, xã LP, T phố H, tỉnh Hưng Yên; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lều Văn B, sinh năm 1958 và bà Nguyễn Thị Th, sinh năm 1959; Vợ là chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1984; Có hai con: Con lớn sinh năm 2009, con nhỏ sinh năm 2014; Tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân:

- Bản án số 53/HSST ngày 31/11/2004 của Tòa án nhân dân thị xã H (nay là T phố H) xử phạt 02 năm 03 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích.

- Ngày 21/6/2012 bị Ủy ban nhân dân T phố H ra Quyết định về việc đưa vào trung tâm chữa bệnh - giáo dục - lao động xã hội tỉnh Hưng Yên để cai nghiện, thời hạn là 12 tháng.

- Ngày 15/5/2014 bị Công an T phố H xử phạt hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản.

- Bản án số 31/HSST ngày 02/7/2014 của Tòa án nhân dân T phố H, xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/6/2019. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hưng Yên.

Có mặt tại phiên tòa.

* Người làm chứng: Anh Mai Văn Vinh - Vắng mặt.

Địa chỉ: Đội 2, thôn AC, xã LP, T phố H, tỉnh Hưng Yên.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do bản thân nghiện ma túy, nên khoảng 08 giờ ngày 07/06/2019, Lều Văn T đi bộ từ nhà đến khu vực Chùa Đông gần Nhà thiếu nhi tỉnh Hưng Yên tìm mua Heroine để sử dụng. T gặp một nam thanh niên không rõ tên tuổi, địa chỉ có dáng vẻ giống người nghiện ma túy nên đã tới gần hỏi: Có mua được “hàng” không?, ý muốn hỏi mua được Heroin không thì người này bảo: “Mày mua bao nhiêu, đưa tao mua cho.” T đưa cho người thanh niên 200.000 đồng, người này nhận tiền và đi đâu đó khoảng 5 phút sau thì quay lại đưa cho T 01 gói giấy nhỏ có màu trắng và xanh, T cầm lấy mở ra xem thì thấy bên trong có chứa chất bột màu trắng dạng cục, bột, vì là người nghiện ma túy nên biết đó là Heroine, T gói lại cầm ở nắm tay phải rồi đi bộ về xã Liên Phương, thành phố H để tìm chỗ sử dụng ma túy. Khi T đi tới đường ADB thuộc thôn AC II, xã Liên Phương, thành phố H thì bị lực lượng Công an yêu cầu kiểm tra. T đã tự giác giao nộp gói Heroine đang cầm ở nắm tay phải.

Vật chứng thu giữ: 01 gói nhỏ bằng giấy màu trắng - xanh bên trong chứa chất bột kết tinh màu trắng được niêm phong trong một phong bì.

Cùng ngày 07/06/2019 Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố H đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lều Văn T tại đội M, thôn AC I, xã LP, thành phố H, tỉnh Hưng Yên. Quá trình khám xét không thu giữ tài liệu, đồ vật gì.

Tại Bản kết luận giám định số 356/PC09 ngày 10/06/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hưng Yên kết luận: Chất màu trắng dạng cục và bột trong niêm phong ghi thu của Lều Văn T là ma túy, loại Heroine có khối lượng 0,178 gam.

Quá trình điều tra Lều Văn T thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi tàng trữ phép chất ma túy của mình.

Đối với người đàn ông đã bán ma túy, T khai không quen, mới gặp lần đầu nên không biết tên là gì, ở đâu, khi mua ma túy không có ai chứng kiến nên không có đủ căn cứ để xử lý.

Tại bản cáo trạng số: 37/CT-VKS-TPHY ngày 27/8/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố H đã truy tố Lều Văn T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo đã T khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố H giữ nguyên nội dung bản Cáo trạng; Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, đề nghị HĐXX tuyên phạt bị cáo Lều Văn T từ 01 năm 09 tháng đến 02 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 07/6/2019 và không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo; Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị tuyên tịch thu cho tiêu hủy 0,150 gam Heroine trong niêm phong được hoàn lại sau giám định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố H, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố H, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Vì vậy các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Về nội dung: Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng Biên bản bắt người phạm tội quả tang được lập hồi 09 giờ 20 phút ngày 07/6/2019; bản Kết luận giám định số: 356/PC09 ngày 10/6/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hưng Yên; Lời khai của bị cáo; lời khai của người làm chứng anh Mai Văn Vinh; Vật chứng thu giữ được cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ. Các tài liệu, chứng cứ này phù hợp với lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay. Trên cơ sở đó có đủ căn cứ xác định: Hồi 08 giờ 45 phút ngày 07/06/2019, tại khu vực ven đường ADB thuộc thôn AC II, xã LP, thành phố H, Lều Văn T đã có hành vi tàng trữ 0,178 gam là ma túy, loại Heroine nhằm mục đích sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang.

Hành vi trên của Lều Văn T đã đủ yếu tố cấu T tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Viện kiểm sát nhân dân thành phố H truy tố Lều Văn T về tội danh và áp dụng điều luật như bản Cáo trạng viện dẫn là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về quyết định hình phạt: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây mất trật tự trị an xã hội, góp phần làm cho tệ nạn ma túy tại địa phương ngày càng gia tăng. Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy và có nhân thân xấu, đã có 02 tiền án về tội Cố ý gây thương tích và tội Trộm cắp tài sản, 01 tiền sự về hành vi trộm cắp tài sản và đã từng bị đưa đi cai nghiện bắt buộc nhưng bị cáo không quyết tâm cai nghiện ma túy để trở thành người công dân có ích cho xã hội và gia đình dẫn tới bị cáo đã tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Xét thấy cần thiết bắt bị cáo cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo mới có tác dụng giáo dục bị cáo sau này không tái phạm và phòng ngừa chung. Đồng thời tạo điều kiện để bị cáo cai nghiệm được ma túy.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo có nghề nghiệp là lao động tự do, thu nhập không ổn định, bản thân bị cáo không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: 0,150 gam Heroine được hoàn lại sau giám định là vật cấm lưu hành nên sẽ tịch thu cho tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Về tội danh và hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Lều Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Lều Văn T 01 năm 09 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 07/6/2019.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[2] Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu cho tiêu hủy 0,150 gam Heroine trong niêm phong ghi “số 356/PC 09, số TCGĐ: 91-CATP Hưng Yên”.

(Vật chứng trên có đặc điểm, trọng lượng theo Quyết định chuyển vật chứng số 28/QĐ-VKS-TPHY ngày 27/8/2019 của Viện kiểm sát nhân dân T phố H).

[3] Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Bị cáo Lều Văn T phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

[4] Về quyền kháng cáo: Bị cáo được kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. N¬i nhËn:

Cỡ chữ