- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Đình Được - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLH…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bùi Đình Đ phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU TỈNH QUẢNG NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| ========= Bản án số: 39/2019/HS-ST Ngày: 06/6/2019 |
NHÂN DÂN
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU, TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Xuân Diễn.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Hữu Trung;
Ông Bùi Quốc Tuấn.
- Thư ký tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Tô Thị Thịnh - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh ;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông triều tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Văn Dũng - Kiểm sát viên
Ngày 06 tháng 6 năm 2019, tại Hội trường xét xử, Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 32/2019/TLST-HS ngày 09 tháng 4 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2019/QĐXXST-HS, ngày 23/5/2019 của tòa án nhân dân thị xã Đông Triều, đối với bị cáo:
Bùi Đình Đ, sinh ngày 16/3/1980. Nơi đăng ký hộ khẩu và cư trú: Thôn V, xã Th, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh. Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không. Trình độ văn hóa: Lớp 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Họ và tên bố: Bùi Đình T; Họ và tên mẹ: Tăng Thị Th. Vợ là Nguyễn Thị H, có hai con, con lớn sinh năm 2001, con nhỏ sinh năm 2009; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt quả tang ngày 31/12/2018, tạm giữ ngày 31/12/2018, tạm giam ngày 03/01/2019, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã Đông Triều - Có mặt tại phiên tòa.
- Người chứng kiến: 1, Ông Lê Văn H, sinh năm 1962. Địa chỉ: Tổ 3, khu V, phường M, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh.
2, Ông Trần Văn Kh, sinh năm 1958.
Địa chỉ: Tổ 5, khu V, phường M, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do nghiện ma túy, khoảng 11 giờ ngày 31/12/2018, Bùi Đình Đ dùng điện thoại di động có số thuê bao 0787.299.997 gọi điện cho người đàn ông tên T qua số điện thoại 0333.910.456 để nhờ mua hộ 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) ma túy loại Heroine thì được T đồng ý và hẹn đưa ma túy cho Đ ở khu vực ngã ba giao cắt giữa Quốc lộ 18 và đường 388 thuộc khu V, phường M, thị xã Đ. Khoảng 12 giờ cùng ngày, Đ một mình điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 99H8 - 0088 đi đến khu vực trên. Tại đây, Đ đưa cho T 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) để nhờ mua hộ ma túy. T cầm tiền rồi bỏ đi khoảng 20 phút sau thì quay lại chỗ Đ và nói số ma túy T mua hộ để ở cây cột điện cách chỗ Đ đứng khoảng 50 m. Nên Đ đi về phía cây cột điện thấy có 01 (một) vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng nhạt, mở ra bên trong có 02 (hai) gói giấy bạc đều chứa chất tinh thể màu trắng. Khi lấy được ma túy, Đ cất giấu vào túi áo khoác phía trước bên phải đang mặc và điều khiển xe môtô đi về. Đ điều khiển xe mô tô đi được khoảng 20m thì bị lực lượng Công an phường Mạo Khê, thị xã Đông Triều kiểm tra, phát hiện bắt quả tang. Thu giữ 01 (một) vỏ bao thuốc lá bên trong có 02 (hai) gói giấy bạc đều chứa chất tinh thể màu trắng ở túi áo khoác phía trước bên phải. Ngoài ra còn thu giữ của Đ 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 99H8 – 0088 và số tiền 295.000đ (Hai trăm chín mươi lăm nghìn đồng)
Tại bản kết luận giám định số 153/GĐMT ngày 03/01/2019, của phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Quảng Ninh, kết luận: Chất tinh thể màu trắng ghi thu của Bùi Đình Đ là chất ma túy, loại Heroine, khối lượng 0,11 gam (không phẩy mười một gam).
(Heroine nằm trong danh mục IA, STT: 09; Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ Ban hành các danh mục chất ma túy và tiền chất).
Ngoài ra Đ còn khai, trước đó vào ngày 25/12/2018, Đ cũng nhờ người đàn ông tên T mua hộ 01 (một) gói ma túy loại Heroine với giá 100.000đ (một trăm nghìn đồng), sau đó Đ đem về nhà và sử dụng hết.
Quá trình điều tra, Bùi Đình Đ khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Đối với 0,11 gam heroine thu giữ của Đ đã sử dụng hết trong quá trình giám định, không còn mẫu vật hoàn lại.
01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Sony và 295.000đ (Hai trăm chín mươi lăm nghìn đồng) và 01(một) vỏ bao thuốc lá Thăng Long thu giữ của Đ, Viện kiểm sát ra quyết định yêu cầu Cơ quan điều tra chuyển các vật chứng đến Chi cục thi hành án dân sự thị xã Đông Triều để quản lý, bảo quản theo quy định.
01 (một) chiếc xe môtô biển kiểm soát 99H8 - 0088, chưa xác định được chủ sở hữu, ngày 08/04/2019 Cơ quan cảnh sát điều tra, Công an thị xã Đông Triều ra Lệnh nhập kho vật chứng để tiếp tục xác minh, làm rõ và xử lý sau.
Bản cáo trạng số 31/CT-VKS-ĐT, ngày 08/4/2019 của viện kiểm sát nhân dân (VKSND) thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh đã truy tố bị cáo Bùi Đình Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự (BLHS).
Tại phiên tòa, đại diện VKSND thị xã Đông Triều giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng, đề nghị Hội đồng xét xử(HĐXX) áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS, xử phạt bị cáo từ 12 đến 15 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 31/12/2018. Đối với 0,11g ma túy đã sử dụng hết trong quá trình giám định không đề cập. Tịch thu tiêu hủy 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long, trả lại bị cáo 295.000đồng nhưng giữ lại để đảm bảo thi hành án, tịch thu phát mại sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sony màu đen.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án và căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:
[1] Về hành vi quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên tham gia trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, đúng trình tự thủ tục tố tụng được quy định trong bộ luật tố tụng hình sự và bị cáo không có ý kiến gì khiếu nại về quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng, HĐXX khẳng định các quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
Tại phiên tòa bị cáo Bùi Đình Đ khai nhận hành vi phạm tội của mình như sau: Khoảng 11 giờ ngày 31/12/2018 do có nhu cầu sử dụng ma túy, Bùi Đình Đ dùng điện thoại di động của mình gọi cho một người tên T hỏi nhờ mua hộ 200.000đồng ma túy và được T đồng ý và hẹn ở ngã ba giao cắt giữa quốc lộ 18 và đường 388 thuộc khu V phường M, thị xã Đ để Đ đưa tiền cho T đi mua ma túy, sau đó Đ một mình đi xe mô tô đến đưa tiền cho T, khoảng một lúc sau T về và nói với Đ là ma túy để ở chân cột điện gần đó, T ra thì thấy có một vỏ bao thuốc lá Thăng Long bên trong có hai gói ma túy, Đ cho vào túi áo phía trên bên phải rời đi được khoảng 20m thì bị Công an bắt quả tang thu giữ vật chứng.
Người chứng kiến, ông Lê Văn H (BL số 18 và từ 54 đến 57), ông Trần Văn Kh (BL số 18 và từ 58 đến 61) có lời khai và khai trong Biên bản bắt người phạm tội quả tang xác nhận về việc khoảng 13 giờ ngày 31/12/2018 hai ông được cơ quan công an mời chứng kiến công an bắt giữ quả tang Bùi Đình Đ có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy tại khu vực khu V, phường M, thị xã Đ, đã thu giữ số ma túy trong túi áo phía trên bên phải của Bùi Đình Đ khai là Heroin .
Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 13 giờ 30 phút ngày 31/12/2018 tại tổ 6 khu V, phường M, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh thể hiện: Hồi 13 giờ ngày 31/12/2018 tại tổ 6 khu V, phường M, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh, Công an thị xã Đông Triều bắt quả tang Bùi Đình Đ có hành vi tàng trữ chất ma túy thu giữ vật chứng (Bút lục số 14 và 18).
Tại bản kết luận giám định số 153/GĐMT ngày 01/01/2019 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh ghi: Chất bột màu trắng (kí hiệu M1, M2) trong phong bì niêm phong ghi: Vật chứng thu giữ của Bùi Đình Đ, sinh năm 1980; Trú tại: V Th, Th, Đ, Quảng Ninh ngày 31/12/2018 gửi giám định là ma túy; Loại: Heroine; Tổng khối lượng:0,11gam (Không phẩy mười một gam) (Bút lục số 31).
Xét lời khai của bị cáo Đ tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của Người làm chứng, và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa như Biên bản bắt người phạm tội quả tang, các Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ ; Biên bản xác định hiện trường, Sơ đồ và Bản ảnh hiện trường, bản kết luận giám định…đã có đầy đủ cơ sở để kết luận: Ngày 31/12/2018 Bùi Đình Đ đã có hành vi tàng trữ trái phép khối lượng 0,11 gam (Không phẩy mười một gam) ma túy loại Heroine
Cáo trạng số 31/CT - VKS - ĐT, ngày 08/4/2019 của VKSND thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh truy tố bị cáo Bùi Đình Đ là có căn cứ pháp luật.
Hành vi của Bùi Đình Đ ngày 31/12/2018 đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.
Xét tính chất mức độ hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự trị an ở địa phương, nhất là các loại tội phạm và vi phạm pháp luật liên quan đến chất ma túy trên địa bàn ngày càng diễn biến phức tạp. Để góp phần ngăn chặn và từng bước đẩy lùi hiểm họa về chất ma túy trên địa bàn thị xã Đông Triều và giáo dục cải tạo bị cáo, nghĩ cần tuyên mức hình phạt tương ứng với hành vi mà Bùi Đình Đ đã thực hiện, với những chứng cứ nêu trên, HĐXX thấy có đủ căn cứ pháp luật để xét xử bị cáo về tội tàng trữ trái phép chất ma túy là phù hợp với thời gian địa điểm, Biên bản bắt người phạm tội quả tang, các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và lời khai nhận tội của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự : Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo : Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Tuy nhiên dù bị cáo có tình tiết giảm nhẹ như vậy, song khi xem xét HĐXX thấy cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định để cải tạo chính bị cáo và giáo dục phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung : Bị cáo là đối tượng nghiện chất ma túy, nghề nghiệp và thu nhập không ổn định, HĐXX thấy không cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng của vụ án : Đối với số ma túy cơ quan giám định đã sử dụng hết không hoàn lại sau giám định (BL số 31), HĐXX không đề cập đến việc tịch thu tiêu hủy.
Đối với tiền 295.000đồng cơ quan điều tra thu giữ khi bắt giữ quả tang bị cáo, số tiền này không liên quan đến hành vi phạm tội cần trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Đối với 01(một) điện thoại di động nhãn hiệu Sony màu đen, bị cáo dùng vào việc liên lạc mua ma túy cần tịch thu phát mại sung ngân sách nhà nước.
Đối với một vỏ bao thuốc là Thăng Long dùng để chứa hai gói ma túy, không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với xe môtô biển kiểm soát 99H8 - 0088, chưa xác định được chủ sở hữu, ngày 08/04/2019 Cơ quan cảnh sát điều tra, Công an thị xã Đông Triều ra Lệnh nhập kho vật chứng để tiếp tục xác minh, làm rõ và xử lý sau (BL số 84a), HĐXX không đề cập.
Trong vụ án này Bùi Đình Đ khai nhờ một người đàn ông tên T mua ma túy nhưng không biết địa chỉ lai lịch, cơ quan điều tra không có căn cứ điều tra xử lý, HĐXX không xem xét đến.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS .
Tuyên bố: Bùi Đình Đ phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Về hình phạt: Xử phạt Bùi Đình Đ 12 (Mười hai) tháng tù, thời hạn tính từ ngày 31/12/2018.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS; Khoản 1, điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 01 (Một) vỏ bao thuốc lá Thăng Long được thể hiện trong Biên bản giao nhận vật chứng số 46 ngày 08/4/2019 giữa Công an thị xã Đông Triều và chi cục Thi hành án dân sự thị xã Đông Triều.
Tịch thu phát mại sung ngân sách Nhà nước 01(một) điện thoại di động nhãn hiệu Sony màu đen có tình trạng kỹ thuật như trong Biên bản giao nhận vật chứng số 46 ngày 08/4/2019 giữa Công an thị xã Đông Triều và chi cục Thi hành án dân sự thị xã Đông Triều.
Trả lại số tiền 295.000đồng cho bị cáo Bùi Đình Đ mà Chi cục Thi hành án Dân sự thị xã Đông Triều đang quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng số 46 ngày 08/4/2019 giữa Công an thị xã Đông Triều và chi cục Thi hành án dân sự thị xã Đông Triều nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
-Về án phí và quyền kháng cáo: Áp dụng khoản 1 Điều 331, khoản 1 Điều 333, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Khoản 1 Điều 6, điểm a khoản 1 điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 buộc bị cáo Bùi Đình Đ phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo. Báo cho bị cáo biết quyền có kháng cáo Bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Ninh ; - VKSND tỉnh Quảng Ninh; - VKSND Tx Đông Triều; - Công an Tx Đông Triều; - Bị cáo; - Chi cục Thi hành án, DS cùng cấp ; - Lưu hồ sơ vụ án, án văn. | THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Xuân Diễn |