vanban.org

Bản án 39/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình Tuyên án 22/08/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm h khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần Văn Th 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ (ngày 30 tháng 5 năm 2019). Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ lu… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn Th - TTMT - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự xử phạt
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN V
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 39/2019/HS-ST
Ngày 22 - 8 – 2019

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V, TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thùy Dương.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phạm Đức Hiển.

Ông Nguyễn Thanh Nghĩa.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tho, Thư ký Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Hà, Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 8 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 42/2019/TLST-HS ngày 30 tháng 7 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 41/2019/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 8 năm 2019 đối với bị cáo:

Trần Văn Th, sinh năm 1990 tại Thái Bình;

Nơi cư trú: Thôn T, xã T1, huyện V, tỉnh Thái Bình;

Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12;

Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam;

Bố đẻ: Trần Văn T; mẹ đẻ: Nguyễn Thị S; chưa có vợ; chưa có con;

Tiền án: Bản án số 104/2017/HS-ST ngày 05 tháng 4 năm 2017 Tòa án nhân dân thành phố N, tỉnh Nam Định xử phạt 18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 28 tháng 11 năm 2016, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự.

Tiền sự: Không;

Nhân thân: Ngày 13 tháng 10 năm 2006 Công an huyện V, tỉnh Thái Bình ra Quyết định số 251/QĐ/XPVPHC xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản và làm hư hỏng tài sản, bằng hình thức cảnh cáo; Ngày 05 tháng 11 năm 2008 Công an huyện V, tỉnh Thái Bình ra Quyết định số 328/QĐ/XPVPHC xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản, bằng hình thức phạt tiền 100.000 đồng; Ngày 11 tháng 12 năm 2012 Chủ tịch UBND thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình ra Quyết định số 3491/QĐ-UB áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh tại Trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục – Lao động xã hội thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình, thời hạn 12, lý do nghiện ma túy; Ngày 23 tháng 12 năm 2013 Chủ tịch UBND tỉnh Thái Bình ra Quyết định số 2939/QĐ-UB áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc Thanh Hà, thời hạn 24 tháng, lý do trộm cắp tài sản.

Bị bắt, tạm giữ từ ngày 30 tháng 5 năm 2019 đến ngày 08 tháng 6 năm 2019 chuyển tạm giam cho đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Bình.

(Có mặt)

- Người chứng kiến:

1. Anh Đỗ Ngọc Ch, sinh năm 1984; địa chỉ: Thôn L, xã S, huyện V, tỉnh Thái Bình. (vắng mặt)

2. Anh Tô Văn Q, sinh năm 1974; địa chỉ: Ngõ 17, tổ A, thị trấn V, huyện V, tỉnh Thái Bình. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ 00 phút, ngày 30 tháng 5 năm 2019, Trần Văn Th đón xe khách đi từ nhà lên thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình mục đích mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Tại khu vực một ngõ nhỏ gần chợ Quang Trung thuộc phường Quang Trung, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình, Th gặp và mua của một người đàn ông khoảng 30 tuổi, không biết tên, địa chỉ, 200.000 đồng được một gói ma túy được gói bằng giấy tráng kim màu trắng. Mua xong, Th bỏ gói ma túy vào trong bao thuốc lá Thăng Long rồi cất giấu vào túi áo ngực bên trái phía trước đang mặc và đi nhờ xe máy của một người đàn ông không quen biết về nhà. Đến khoảng 10 giờ cùng ngày, Th xuống xe đi bộ trên đường liên xã thuộc địa phận thôn Quý Sơn, xã Song An, huyện V, tỉnh Thái Bình thì bị tổ công tác Công an huyện V, tỉnh Thái Bình phát hiện có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy nên đã yêu cầu kiểm tra. Trước sự chứng kiến của anh Đỗ Ngọc Ch và anh Tô Văn Q, tổ công tác thu tại túi áo ngực bên trái phía trước Th đang mặc 01 bao thuốc lá Thăng Long bên trong có 01 gói nhỏ bên ngoài được gói bằng giấy tráng kim màu trắng, mở ra bên trong có chứa chất bột màu trắng dạng cục, Th khai đó là Hêrôin, Th mua mục đích sử dụng cho bản thân và 06 điếu thuốc lá. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng gửi giám định.

Tại Kết luận giám định số 187/KLGĐ-PC09 ngày 30 tháng 5 năm 2019 Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luận: Mẫu gửi giám định thu giữ của Trần Văn Th là ma túy, loại Heroine (Hêrôin), có khối lượng 0,1462 gam (không phẩy một nghìn bốn trăm sáu mươi hai gam).

Cáo trạng số 43/CT-VKSVT ngày 30 tháng 7 năm 2019 Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh Thái Bình truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Thái Bình để xét xử đối với Trần Văn Th về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Trần Văn Th khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu; đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên nội dung cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Trần Văn Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm h khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt Trần Văn Th mức án từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy toàn bộ số Hêrôin được hoàn trả sau giám định được niêm phong trong phong bì số 187/KLGĐ-PC09 và 01 bao thuốc lá Thăng Long bên trong có 06 điếu thuốc lá. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Trần Văn Th đồng ý với tội danh Viện kiểm sát đã truy tố và không có ý kiến tranh luận đối với bản luận tội của Kiểm sát viên.

Bị cáo Trần Văn Th nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về căn cứ kết tội đối với bị cáo: Tại phiên tòa, Trần Văn Th khai nhận toàn bộ hành vi như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố; phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong vật chứng, kết luận giám định, lời khai người chứng kiến và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 30 tháng 5 năm 2019 tại khu vực đường liên xã thuộc địa phận thôn Quý Sơn, xã Song An, huyện V, tỉnh Thái Bình, Trần Văn Th tàng trữ trái phép 01 gói ma túy, loại Hêrôin, có khối lượng 0,1462 gam, mục đích sử dụng cho bản thân. Theo quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự thì: “1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: …; c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam; …”. Hành vi trên của Trần Văn Th đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Đánh giá về tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo, thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quy định quản lý chất gây nghiện của nhà nước. Ma túy không những gây tác hại cho sức khỏe, phá hoại hạnh phúc của bao gia đình mà còn là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội khác, ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự trị an xã hội. Bị cáo là người đã thành niên, có nhận thức đầy đủ về tính chất nguy hiểm cũng như hậu quả của hành vi do mình thực hiện, nhưng vẫn cố ý thực hiện tội phạm.

Đánh giá về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, thấy: Trần Văn Th có một tiền án chưa được xóa án tích nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo thành khẩn khai báo do đó được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, thấy: Từ năm 2006 đến năm 2013 bị cáo đã hai lần bị xử phạt hành chính, đã bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và đưa vào cơ sở giáo dục, mặc dù các tiền sự trên của bị cáo đều đã được xóa nhưng cần đánh giá bị cáo có nhân thân xấu, năm 2017 bị cáo bị kết án về tội tàng trữ trái phép ma túy, nay mới chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương bị cáo lại tái nghiện và tiếp tục phạm tội cùng loại, do đó Hội đồng xét xử cần áp dụng mức hình phạt nghiêm minh, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, để cải tạo, giáo dục bị cáo và góp phần đấu tranh phòng ngừa chung nhất là trong bối cảnh hiện nay tội phạm ma túy có chiều hướng gia tăng và ngày càng phức tạp.

Khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Xét thấy bị cáo tàng trữ ma túy để sử dụng cho bản thân, không vì mục đích vụ lợi, bị cáo làm nghề lao động tự do, thu nhập không ổn định, do đó không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Theo quy định tại Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, số ma túy thu giữ trong vụ án còn lại sau giám định là vật thuộc loại nhà nước cấm tàng trữ, 01 bao thuốc lá Thăng Long bên trong có 06 điếu thuốc lá hiện không còn giá trị sử dụng, do đó cần tịch thu tiêu hủy.

Về nguồn gốc số ma túy, Trần Văn Th khai mua của một người đàn ông không quen biết tại một ngõ nhỏ gần chợ Quang Trung thuộc phường Quang Trung, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình nên cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra, xử lý.

Bị cáo Trần Văn Th phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Trần Văn Th có quyền kháng cáo đối với bản án trong thời hạn luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm h khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần Văn Th 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ (ngày 30 tháng 5 năm 2019).

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, xử tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy thu giữ của Trần Văn Th còn lại sau giám định được niêm phong trong 01 phong bì số 187/KLGĐ-PC09 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình và 01 bao thuốc lá Thăng Long bên trong có 06 điếu thuốc lá.

(Vật chứng đã được chuyển đến cơ quan Chi cục Thi hành án dân sự huyện V, tỉnh Thái Bình ngày 02 tháng 8 năm 2019).

4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Trần Văn Th phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo Trần Văn Th có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày 22 tháng 8 năm 2019.

6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ