- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "L-H"
- Tòa quyết gì? 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NINH HÒA CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH KHÁNH HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 39/2019/HNGĐ-ST Ngày: 11-9-2019 V/v tranh chấp ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NINH HÒA, TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Quốc Thịnh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Chung
2. Bà Lê Thị Hoa
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Tuyết – Thư ký Tòa án nhân dân thị
xã Ninh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ninh Hòa tham gia phiên tòa:
Ông Trương Ngọc Bình – Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 9 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa,
tỉnh Khánh Hòa mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số 107/2019/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 4 năm 2019 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 7 năm 2019; Quyết định hoãn phiên tòa số 31/2019/QĐST-HNGĐ ngày 29 tháng 7 năm 2019 và Thông báo dời ngày xét xử lập ngày 15 tháng 8 năm 2019 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Ngô Thị Kiều L, sinh năm 1982;
Nơi cư trú: Tổ dân phố Thạnh Danh, phường Ninh Diêm, thị xã Ninh
Hòa, tỉnh Khánh Hòa; có mặt.
- B đơn: Ông Nguyễn Ngọc H, sinh năm 1979;
Nơi cư trú: Tổ dân phố 11, phường Ninh Hiệp, thị xã Ninh Hòa, tỉnh
Khánh Hòa; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên
đơn bà Ngô Th Kiều L trình bày:
Bà và ông Nguyễn Ngọc H kết hôn sống chung với nhau từ năm 2016 đên
năm 2017 thì đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân phường Ninh Diêm cấp giấy chứng nhận kết hôn số 65 ngày 25/8/2017. Quá trình chung sống ông bà có với nhau 01 con chung là Nguyễn Ngô Ngọc H, sinh ngày 09/7/2017.
Cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc do ông H quan hệ với người phụ
nữ khác và không còn quan tâm chăm sóc gia đình, thường xuyên xúc phạm đến danh dự và lòng tự trọng của bà dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vả, tình cảm vợ chồng ngày càng rạn nứt, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng không thể hàn gắn được. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông Nguyễn Ngọc H.
Về con chung: Bà tự nguyện trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục,
nuôi dưỡng con chung Nguyễn Ngô Ngọc H, sinh ngày 09/7/2017 đến tuổi trưởng thành. Bà yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 2.000.000 đồng đến khi con chung tròn 18 tuổi.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà không yêu cầu giải quyết tài sản chung
và xác định không có nợ chung với ông H.
B đơn đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng cố tình vắng mặt không
có lý do nên Tòa án không thể tiến hành các thủ tục tố tụng theo quy đ nh của pháp luật
Tại phiên tòa,
Bà Ngô Thị Kiều L thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện, yêu cầu ly hôn
với ông Nguyễn Ngọc H; về con chung: Bà L tự nguyện trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung Nguyễn Ngô Ngọc H, sinh ngày 09/7/2017 đến tuổi trưởng thành. Bà L không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con chung; về tài sản chung và nợ chung: Bà L không yêu cầu giải quyết tài sản chung và xác định không có nợ chung với ông H
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ninh Hòa tham gia phiên tòa phát
biểu ý kiến như sau:
Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa,
Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và nguyên đơn đã chấp hành đúng và đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; bị đơn không chấp hành nhưng đã được Tòa án tống đạt hợp lệ, công khai đảm bảo quyền lợi hợp pháp. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là đúng quy định.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn
của nguyên đơn; về con chung: Đề nghị giao con chung Nguyễn Ngô Ngọc H, sinh ngày 09/7/2017 cho bà Ngô Thị Kiều L trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành; bà L không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con chung nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét; về tài sản chung và nợ chung: Bà L không yêu cầu giải quyết tài sản chung và xác định không có nợ chung với ông H nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại
phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận đ nh:
Về thủ tục tố tụng: Bị đơn là ông Nguyễn Ngọc H mặc dù đã được
Tòa án tống đạt Giấy triệu tập, Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, triệu tập tham gia phiên tòa nhưng ông H đều vắng mặt không có lý do, không cung cấp lời khai, chứng cứ cho Tòa án nên Hội đồng xét xử quyết định xử vắng mặt ông H theo khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Ngô Thị
Kiều L yêu cầu giải quyết ly hôn với ông Nguyễn Ngọc H hiện cư trú tại: Tổ dân phố 11, phường Ninh Hiệp, thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa nên quan hệ pháp luật trong vụ án được xác định là tranh chấp về quan hệ hôn nhân và gia đình và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Ngô Thị Kiều L và ông Nguyễn Ngọc H kết
hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Ninh Diêm và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 65 ngày 25/8/2017 vì vậy đây là hôn nhân hợp pháp.
Qua lời trình bày của bà Ngô Thị Kiều L, Hội đồng xét xử thấy rằng: Hôn
nhân phải trên cơ sở tự nguyện, giữa vợ chồng có sự yêu thương, chăm sóc lẫn nhau, tuy nhiên quan hệ hôn nhân giữa bà L và ông H không hạnh phúc do ông H quan hệ với người phụ nữ khác và không còn quan tâm chăm sóc gia đình, thường xuyên xúc phạm đến danh dự và lòng tự trọng của bà dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vả, tình cảm vợ chồng ngày càng rạn nứt, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng không thể hàn gắn được. Bà L khẳng định không còn tình cảm với ông H nên xin ly hôn. Mặt khác, trong suốt quá trình tố tụng, ông H cố tình vắng mặt không đến Tòa, điều này đủ cơ sở xác định ông H không còn quan tâm đến bà L. Như vậy, đời sống chung của bà L, ông H không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, yêu cầu xin ly hôn của bà L là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về con chung: Theo tài liệu giấy khai sinh và lời khai của bà L thì có
01 con chung là Nguyễn Ngô Ngọc H, sinh ngày 09/7/2017, bà L tự nguyện trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung đến tuổi trưởng thành. Để đảm bảo quyền lợi mọi mặt cũng như bảo đảm sự phát triển toàn diện và cuộc sống ổn định cho con chung, Hội đồng xét xử xét nên giao con chung cho bà L tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng sau khi ly hôn.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Tại phiên tòa bà L thay đổi yêu
cầu khởi kiện, không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con chung. Xét việc thay đổi yêu cầu khởi kiện là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà L không yêu cầu giải quyết tài sản
chung và xác định không có nợ chung với ông H nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về án phí: Bà L phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ
thẩm.
Xét về quan điểm giải quyết vụ án của Đại diện Viện kiểm sát nhân
dân thị xã Ninh Hòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận toàn bộ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1
Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273, Điều 278 và Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều
82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm
2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Ngô Thị Kiều L.
1.1. Về hôn nhân: Bà Ngô Thị Kiều L được ly hôn ông Nguyễn Ngọc H.
1.2. Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Ngô Ngọc H, sinh ngày
09/7/2017 cho bà Ngô Thị Kiều L trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng sau khi ly hôn.
Ông Nguyễn Ngọc H có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục
con chung không ai được cản trở.
Vì lợi ích của con chung khi cần thiết các đương sự có quyền xin thay đổi
người trực tiếp nuôi con chung hoặc mức cấp dưỡng nuôi con chung.
Quy đ nh chung: Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
2. Về án phí: Bà Ngô Thị Kiều L phải nộp 300.000 đồng Ba trăm ngàn
đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí mà bà L đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2018/0006362 ngày 08 tháng 4 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa. Bà L đã nộp đủ án phí.
3. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời
hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Khánh Hòa; - VKSND tỉnh Khánh Hòa; - VKSND thị xã Ninh Hòa; - Chi cục THADS thị xã Ninh Hòa; - Các đương sự; - UBND phường Ninh Diêm, thị xã Ninh Hòa; GCNKH số: 65 ngày 25/8/2017; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Quốc Thịnh |