- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Cù Thị Thu P và Dương Văn T ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Cù Thị Thu P và anh Dương Văn T.
- Căn cứ chính? Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA VÌ THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 39/2019/HNGĐ-ST Ngày 20 tháng 8 năm 2019 “V/v: Tranh chấp hôn nhân gia đình, nuôi con khi ly hôn“ |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B A VÌ – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng T Đức.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Thuật, bà Ngô Thị Kim Quế.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Duy Liệu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Vì tham gia phiên tòa: Không.
Trong ngày 20 tháng 8 năm 2019. Tại Tòa án nhân dân huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội xét xử công khai, sơ thẩm vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 317/2019/TLST - HNGĐ ngày 04 tháng 7 năm 2019. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2019/QĐXXST – HNGĐ ngày 05/8/2019 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Cù Thị Thu P, sinh năm 1993.
Địa chỉ: Thôn B, xã T, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội.
2. Bị đơn: Anh Dương Văn T, sinh năm: 1992.
Địa chỉ: Thôn B, xã T, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội.
Chị P, anh T có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Cù Thị Thu P trình bày: Chị và anh T lấy nhau năm 2014, đăng ký kết hôn tại UBND xã Đồng Thái, huyện Ba Vì. Hai bên kết hôn trên cơ sở tự nguyện, sau khi kết hôn chung sống tại thôn Đồng Bảng, xã Đồng Thái, huyện Ba Vì. Vợ chồng sống hạnh phúc được năm năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh T chơi bời, lô đề, cờ bạc, không quan tâm đến gia đình, vợ, con, mặc dù vẫn sống chung nhà nhưng cuộc sống chung vợ chồng không có hạnh phúc. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Dương Văn T.
Con chung: Vợ chồng có một con chung là Dương Gia P, sinh ngày 17/4/2015. Khi ly hôn, chị xin nuôi con, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung.
Tài sản chung, nợ chung, tài sản riêng: Không có.
Tại bản tự khai và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn Dương Văn T trình bầy: Về điều kiện, thời gian kết hôn, quá trình sống chung đúng như chị P trình bầy. Anh và chị P sống hạnh phúc đến tháng 6/2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do kinh tế khó khăn dẫn đến cuộc sống chung vợ chòng không có hạnh phúc, anh và chị P đã sống ly thân nhau từ đầu tháng 6/2019 đến nay, trong thời gian sống ly thân anh và chị P không quan tâm đến nhau. Nay chị P làm đơn xin ly hôn, bản thân anh thấy tình cảm vợ chồng vẫn còn, mong muốn vợ chồng đoàn tụ. Nếu chị P cương quyết xin ly hôn anh đồng ý.
Con chung: Vợ chồng có một con chung như chị P đã trình bầy, nếu phải ly hôn, anh xin nhận nuôi con không yêu cầu chị P cấp dưỡng nuôi con.
Tài sản chung, nợ chung, tài sản riêng: Không có.
Tại phiên tòa sau khi trình bầy và tranh luận, các đương sự vẫn giữ quan điểm.
* Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Vì có công văn không tham gia phiên tòa do hồ sơ không tiến hành thu thập chứng cứ và không thuộc các trường hợp Viện kiểm sát phải tham gia phiên tòa theo quy định tại Điều 21 của BLTTDS.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Cù Thị Thu P và anh Dương Văn T lấy nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn, hôn nhân hợp pháp. Vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do kinh tế gia đình khó khăn, hai bên không cùng lỗ lực để phát triển, không tìm được tiếng nói chung để xây dựng cuộc sống gia đình, hai anh chị đã sống ly thân nhau từ tháng 6 năm 2019 đến nay. Tại buổi hòa giải ngày 05/8/2019 và tại phiên tòa anh chị đã thuận tình ly hôn. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị P và anh T đã trầm T, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt, việc thuận tình ly hôn của hai bên là tự nguyện nên áp dụng Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Cù Thị Thu P và anh Dương Văn T.
Về con chung: Chị Cù Thị Thu P và anh Dương Văn T có một con chung là Dương Gia P, sinh ngày 17/4/2015. Chị P, anh T xin nhận nuôi con, không yêu cầu bên nào cấp dưỡng nuôi con. Nguyện vọng nuôi con của chị P và anh T là chính đáng, cháu P còn nhỏ cần có sự tận tụy quan tâm, chăm sóc của mẹ. Do vậy để đảm bảo cho cháu có cuộc sống tốt nhất nên giao cháu cho chị P trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với các Điều 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Tạm miễn việc cấp dưỡng nuôi con đối với anh T cho đến khi có yêu cầu khác, anh T được quyền qua lại thăm nom chăm sóc con chung không ai được ngăn cản.
Về tài sản chung, riêng, nợ chung: Cả chị P và anh T đều thừa nhận không có nên Hội đồng xét xử không xét.
Về án phí: Chị Cù Thị Thu P phải chịu án phí sơ thẩm ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, Điều 55, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 33, Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Các Điều 147, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Điều 24, 25, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14. Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Cù Thị Thu P và anh Dương Văn T.
2. Về con chung: Giao cháu Dương Gia P, sinh ngày 17/4/2015 cho chị Cù Thị Thu P nuôi dưỡng đến khi cháu P tròn 18 tuổi hoặc đến khi có yêu cầu khác. Tạm miễn việc cấp dưỡng nuôi con đối với anh T cho đến khi có yêu cầu khác, anh T được quyền qua lại thăm nom chăm sóc con chung không ai được ngăn cản.
3.Về tài sản chung, tài sản riêng, nợ chung: Không có
4. Về án phí: Chị Cù Thị Thu P phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm được đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị P đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Ba Vì ngày 04/7/2019 theo biên lai số AG/2010/ 0009413.
5. Quyền kháng cáo: Chị Cù Thị Thu P và anh Dương Văn T được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND TP Hà Nội - VKSND huyện - Người tham gia tố tụng - UBND xã Đ. - THA dân sự - Lưu hồ sơ | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Hoàng T Đức |