- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "HNGĐ"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân:
- Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN BIÊN TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 39/2019/HNGĐ-ST Ngày 18 - 6 - 2019 “V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN BIÊN TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Chọn
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Ngọc Duyên
2. Ông Huỳnh Văn Dẫn
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thúy Kiều - Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên tham gia phiên tòa: Bà Lai Thị Ngọc Thúy - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 6 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Biên tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 06/2019/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 01 năm 2019 về tranh chấp “Xin ly hôn, nuôi con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 60/2019/QĐXXST-HNGĐ, ngày 14 tháng 5 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 43/2019/QĐST-HNGĐ, ngày 31 tháng 5 năm 2019 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Mai Thị Quỳnh N (tên gọi khác Mai Thị Huỳnh N), sinh năm 1994
HKTT: Ấp L, xã H.Y, huyện A, tỉnh Kiên Giang
Chổ ở hiện nay: Ấp C, xã M. T, huyện H - Kiên Giang.
2. Bị đơn: Anh Trần Hoàng T, sinh năm 1988
Địa chỉ: Ấp L, xã H. Y, huyện A, tỉnh Kiên Giang
(Chị Ncó mặt, anh T vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và những ý kiến tại Tòa án chị Mai Thị Quỳnh N trình bày yêu cầu như sau:
Chị N và anh Trần Hoàng T chung sống với nhau năm 2013, vợ chồng có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán ở địa phương và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Hưng Yên, huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang. Vợ chồng sống hạnh phúc được hơn 01 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do chị và anh T thường xuyên cự cải về vấn đề kinh tế, anh T thường xuyên dùng lời lẽ không hay xúc phạm đến cha mẹ chị, nhưng vì thương con chị đã nhiều lần khuyên can để mong anh sửa đổi để vợ chồng chung sống lo cho các con nhưng anh vẫn tính nào tật nấy, nên vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 11/2015 cho đến nay. Nay xét thấy không thể tiếp tục chung sống với anh T, chị yêu cầu Tòa giải quyết cho ly hôn.
Về con chung: Vợ chồng có 01 người con chung tên Trần Hoàng P, sinh ngày 20/5/2014, hiện đang sống với chị Như. Khi ly hôn, chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh Tcấp dưỡng nuôi con cùng chị.
Về tài sản chung và nợ chung của vợ chồng: Chị Nxác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, ngoài ra chị không yêu cầu gì thêm.
Bị đơn anh Trần Hoàng T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng hợp lệ từ khi thụ lý vụ án đến hòa giải (02 lần), nhưng anh Tkhông hợp tác, cũng không trình bày ý kiến yêu cầu của mình gửi đến Tòa án đối với yêu cầu khởi kiện của chị Như. Tòa án đã tiến hành làm các thủ tục tố tụng theo quy định của luật tố tụng dân sự và đưa vụ án ra xét xử vụ án theo thủ tục chung.
Tài liệu, chứng cứ liên quan đến vụ án gồm: Đơn khởi kiện xin ly hôn; giấy chứng minh nhân dân; sổ hộ khẩu gia đình; giấy khai sinh tên Trần Hoàng P; đơn xác nhận tình trạng cư trú của đương sự; biên bản ghi lời khai của đương sự; biên bản xác minh ngày 09/4/2019 và ngày 10/4/2019.
Kết quả thu thập chứng cứ: Theo các biên bản xác minh ngày 09/4/2019 và ngày 10/4/2019 làm việc với đại diện Ban lãnh đạo ấp L và ấp C cho thấy, chị N và anh T chung sống với nhau từ năm 2013, anh chị sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do anh chị thường xuyên cự cải bất hòa về quan điểm sống, anh chị đã sống ly thân gần 02 năm nay. Trong thời gian chung sống anh chị có 01 người con chung tên Trần Hoàng P, sinh ngày 20/5/2014, hiện đang sống với chị N, chị chăm sóc chu đáo, phát triển bình thường.
Tại phiên tòa hôm nay:
Chị N giữ nguyên yêu cầu, ý kiến như đã trình bày trên. Anh T vắng mặt không có ý kiến.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên phát biểu quan điểm:
- Về thủ tục tố tụng: Từ khi thụ lý cho đến khi đưa vụ án ra xét xử và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký và nguyên đơn đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Riêng bị đơn vắng mặt nhiều lần không lý do, căn cứ khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn.
- Về nội dung vụ án: Xét thấy yêu cầu xin ly hôn, nuôi con chung của chị Mai Thị Quỳnh N đối với anh Trần Hoàng T là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại các Điều 56 và 81 Luật Hôn nhân và gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định:
Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn có nơi cư trú trên địa bàn huyện An Biên. Căn cứ vào các Điều 28, 35 và 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang.
Về thủ tục tố tụng: Sau khi vụ án được thụ lý, Tòa án đã giao các văn bản tố tụng hợp lệ cho anh Tnhưng anh vẫn vắng mặt không lý, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự HĐXX xét xử vắng mặt anh Ttheo thủ tục chung.
Về nội dung vụ án:
Xét về quan hệ hôn nhân, chị N và anh T cưới nhau vào từ năm 2013, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Hưng Yên, theo giấy Chứng nhận kết hôn số 67/2013 ngày 15/5/2013 nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa chị N xin được ly hôn với anh T, do anh chị thường xuyên cự cải bất hòa về quan điểm sống, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài và anh chị đã ly thân từ năm 2015 cho đến nay. Tại phiên tòa hôm nay, chị N vẫn cương quyết xin ly hôn với anh T.
Mặt khác, qua xác minh ngày 09/4/2019 và ngày 10/4/2019 ý kiến của đại diện Ban lãnh đạo ấp đã xác định, trong quá trình vợ chồng anh chị chung sống thì thường xuyên cự cải, bất hòa đời sống hôn nhân không hạnh phúc và vợ chồng đã sống ly thân mấy năm nay (Bút lục 40, 41).
Còn anh T thì trong suốt quá trình giải quyết vụ án đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng và thông báo hòa giải hợp lệ nhiều lần đến Tòa án để tiến hành hòa giải, hàn gắn tình cảm vợ chồng, trở về đoàn tụ cùng lo cho con nhưng anh T không hợp tác và cũng không trình bày ý kiến gì gửi đến Tòa án đối với yêu cầu xin ly hôn của chị N;
Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy hôn nhân giữa chị N và anh T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Hội đồng xét xử thấy yêu cầu xin ly hôn của chị N là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại các Điều 51 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014
Xét về con chung, anh chị có 01 người con chung tên Trần Hoàng P, sinh ngày 20/5/2014. Chị N yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con vì chị có đủ điều kiện kinh tế để nuôi con chung, và từ trước đến nay chị là người trực tiếp chăm sóc nuôi con chung. Căn cứ Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử xét thống nhất chấp nhận yêu cầu nuôi con của chị N. Giao cháu Trần Hoàng P, sinh ngày 20/5/2014 cho chị N tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.
Anh T có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản. Vì lợi ích của con, khi cần thiết cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 có quyền yêu cầu Tòa án xem xét và quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con.
Về cấp dưỡng: Chị N không yêu cầu vì đủ điều kiện kinh tế nuôi con nên HĐXX không đề cập xem xét giải quyết.
Về tài sản và nợ chung: Không có nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét giải quyết.
Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ chấp nhận như nêu ở phần nhận định trên.
Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 144 và Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Do chị N là nguyên đơn nên chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 144, Điều 147, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân:
Xử cho ly hôn giữa chị Mai Thị Quỳnh N (Mai Thị Huỳnh N) và anh Trần Hoàng T.
2. Về con chung:
Giao cháu Trần Hoàng P, sinh ngày 20/5/2014 cho chị N tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Do chị Nkhông có yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét giải quyết.
Anh T có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được ngăn cản. Vì lợi ích của con, khi cần thiết cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 có quyền yêu cầu Tòa án xem xét và quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản và nợ chung: Không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết trong vụ án này.
4. Về án phí hôn nhân sơ thẩm:
Chị Mai Thị Quỳnh N có nghĩa vụ nộp tiền án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ theo biên lai thu số 0005906 ngày 07 tháng 01 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang. Vậy chị N đã nộp đủ án phí.
5. Quyền kháng cáo:
Án xử công khai, đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp Bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành bản án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh ; - Chi cục THADS huyện; - VKSND huyện; - UBND xã H.Y; - Các đương sự; - Lưu. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN Nguyễn Hoàng Thôn Huỳnh Văn Dẫn | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Chọn THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Chọn |